Trại giam tù binh Phú Quốc

Thảo luận trong 'TRI THỨC BỐN PHƯƠNG' bắt đầu bởi luckylac, 04/06/2009.

  1. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Những bài viết liên quan đến "trại giam" này đang được đăng trên báo "An ninh thế giới" và những bài viết được sưu tầm từ internet sẽ tiếp tục đồng hành cùng loạt bài "Những cuộc vượt ngục có 102" ở 1 chủ đề tương tự.
     
  2. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    "Trại giam tù binh Phú Quốc" - Những trang sử đẫm máu

    Có một nhà tù tàn khốc nhất trong các loại nhà tù trên thế giới lại ít được biết đến một cách có hệ thống, đầy đủ là nhà tù Phú Quốc. Những năm gần đây, cùng với sự đầu tư của Trung ương, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, Phú Quốc từ hòn đảo hoang vắng dần thay đổi trở thành “nàng tiên cá” lộng lẫy, thu hút hàng triệu khách du lịch đến tham quan, chiêm ngưỡng.


    Một trong những điều du khách ngỡ ngàng khi đến Phú Quốc là di tích “Trại giam tù binh Phú Quốc” - chứng tích tội ác của đế quốc còn lưu lại trên hòn đảo ngọc này.

    Tên tuổi của Phú Quốc gắn liền với những trang sử hào hùng. Khi nhà Nguyễn bị quân Tây Sơn đánh bại, Nguyễn Ánh đã 3 lần chạy ra đảo Phú Quốc nương náu. Sau khi 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ mất, Anh hùng Nguyễn Trung Trực rút về hoạt động ở 3 tỉnh miền Tây.

    Tháng 6/1868, ông cùng nghĩa quân rút về Hòn Chông rồi ra Phú Quốc. Nhân dân và núi rừng Phú Quốc đã che chở người anh hùng, giúp ông tổ chức lại lực lượng, đánh địch nhiều trận ác liệt tại Hàm Ninh, Cửa Cạn. Nhưng bị chia cắt với đất liền do đường giao thông hiểm trở, nghĩa quân ngày càng hao mòn, lương thực thiếu thốn. Cuối cùng, nhân dân Phú Quốc đau lòng chứng kiến cảnh Nguyễn Trung Trực bị quân Pháp bắt, đem về Rạch Giá xử chém ngày 27/10/1868. Trước lúc hy sinh, Nguyễn Trung Trực đã nói một câu đầy khí phách anh hùng: “Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam thì dân Nam mới hết người đánh Tây”.

    Lời nói của Nguyễn Trung Trực như một câu sấm truyền, bởi suốt hơn một thế kỷ sau ngày máu ông đổ xuống cho quê hương, Phú Quốc là nơi ghi dấu bao trang sử hào hùng của hàng ngàn chiến sĩ yêu nước. Vượt qua mọi hình thức tra tấn tàn bạo, vượt qua mọi chế độ hà khắc, các chiến sĩ - tù binh Phú Quốc đã viết tiếp những trang sử sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng...

    Chưa có một nhà tù nào đặc biệt như ở Phú Quốc, bởi bản thân hòn đảo này cũng chính là một căn cứ địa cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nhân dân Phú Quốc đã đối mặt với muôn vàn khó khăn gian khổ, lực lượng mỏng, vũ khí thô sơ, xa đất liền, xa sự lãnh đạo của tỉnh, có lúc bị cô lập gần 2 năm trời do địch phong tỏa. Nhưng quân dân Phú Quốc vẫn kiên cường đương đầu với quân xâm lược, đặc biệt là đế quốc Mỹ với lực lượng quân đội hùng hậu, vũ khí và phương tiện chiến tranh thuộc loại hiện đại nhất thế giới. Hòn đảo ngọc này đã phải chịu đựng nhiều cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn của quân Mỹ, có cả hải lục không quân, thọc sâu vào căn cứ cách mạng.

    Bị bao vây và bị đánh phá ác liệt, phong trào kháng chiến ở Phú Quốc không tránh khỏi những đau thương, tổn thất nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Kiên Giang và Huyện ủy Phú Quốc, nhân dân trên hòn đảo này kiên cường đứng dậy, bền bỉ phục hồi lực lượng, liên tục đánh địch, phá lỏng thế kềm kẹp của địch, không chỉ thu vũ khí tự trang bị cho mình mà còn đưa bộ đội về tiếp sức với đất liền.

    Với địa hình đặc biệt và tính cách anh hùng, dẫu đất rộng người thưa, đường giao thông cách trở, Phú Quốc đã che chở cho hàng trăm tù nhân khi vượt thoát, vẫn tìm cách liên lạc, nuôi dưỡng cho các phong trào đấu tranh ở Trại giam tù binh Phú Quốc. Những trang sử vàng của Phú Quốc đã ghi lại những cuộc “đánh chiếm” vô tiền khoáng hậu này, ngay từ thời chống Pháp: Tháng 9/1949, “bộ đội Phú Quốc” từ hòn Sơn Rái vượt biển, đổ bộ lên đánh chiếm hãng Cây Dừa ở Nam Đảo, thu 40 súng. Năm 1948, Phú Quốc đưa một trung đội vào đất liền, bổ sung cho lực lượng khu...

    Nhà tù Phú Quốc có một lịch sử vô cùng đặc biệt. Vào cuối năm 1949 đầu năm 1950, quân Quốc dân đảng Trung Hoa bị Quân giải phóng Trung Quốc đánh bại, phải chạy dạt sang biên giới phía bắc Việt Nam. Đám tàn quân này có trên 3 vạn người, được Pháp đưa ra trú ngụ ở phía nam đảo Phú Quốc. Sau khi Tưởng Giới Thạch rời khỏi Đại lục, tháo chạy ra đảo Đài Loan và tuyên bố hòn đảo này thuộc sự kiểm soát của Quốc dân đảng, đám tàn quân này trở về với chủ cũ.

    Lợi dụng một số nhà cửa có sẵn của trại tàn binh, quân Pháp lập một trại giam tù binh trên một diện tích gần 40 ha, gồm 4 khu giam A, B, C, D; được gọi là “Căng Cây Dừa” (Trại Cây Dừa). Những chiến sĩ cách mạng bị địch bắt ở các chiến trường Trung, Nam, Bắc bị chúng tập trung đưa ra trại giam này ở Phú Quốc, khoảng 14.000 người, phần đông từ “Căng” Đoạn Xá (Hải Phòng), được chở ra Phú Quốc bằng tàu thủy.


    Ngay từ những ngày đầu tiên đến “Căng Cây Dừa”, các đảng viên trong các khu nhà giam đã liên lạc với nhau, tổ chức được các chi bộ, Đảng bộ bí mật lãnh đạo anh em tù binh đấu tranh với địch, từ việc cử đại diện tù binh, tổ chức, lao động, sinh hoạt đến đấu tranh chống địch khủng bố, đàn áp, chống dụ dỗ lôi kéo bắt lính trong tù, tổ chức vượt ngục... Chỉ hơn một năm ở trại giam đã có 99 người chết, gần 200 người vượt ngục. Một số anh em thoát ra, được tham gia chiến đấu và công tác ở đảo, góp phần làm nên những chiến thắng của quân dân Phú Quốc. Một số về chiến đấu và công tác ở đất liền.

    Tháng 7/1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Pháp đã trao trả cho phía cách mạng hầu hết tù binh ở trại này.

    Cuối năm 1955, trong lúc giao thời “thay thầy đổi chủ”, ngụy quyền Sài Gòn tranh thủ lập một trại giam cũng ở địa điểm “Căng Cây Dừa” cũ, trên một diện tích rộng 4 ha, gồm có nhà giam tù nam, nhà giam tù nữ, nhà giam phụ lão, được chúng đặt tên là “Trại huấn chính Cây Dừa”, có lúc gọi là “Nhà lao Cây Dừa”. Đầu tháng 1/1956, ngụy quyền Sài Gòn đưa 598 người tù, quê quán từ 33 tỉnh ở trại “Trung tâm huấn chính Biên Hòa” đến đề lao Gia Định, rồi đưa xuống chiếc tàu vận tải của hải quân, mang tên Hắc Giang, rời bến Sài Gòn ngày 2/1/1956.

    Chiều ngày 5/1/1956, tàu Hắc Giang đến Phú Quốc. Về sau, chúng đưa lẻ tẻ thêm một số tù nhân ra “Nhà lao Cây Dừa”. Những người bị chúng đưa đến “Trại huấn chính Cây Dừa” là tù chính trị mà chúng gọi là “Việt Cộng” hoặc “thân Cộng”.

    Ngay những ngày đầu tiên ấy, chính quyền Sài Gòn đã vấp phải sự đấu tranh quyết liệt của tù chính trị, đặc biệt là những người nữ tù. Chỉ trong 7 tháng, từ tháng 2 đến tháng 9/1956, có khoảng 100 “Việt Cộng” lẻ tẻ hoặc tập thể vượt ngục. Một số người tù bị chúng bắn chết khi vượt rào. Trong số tù chính trị vượt ngục năm 1956 có đồng chí Phạm Văn Khỏe (em ruột của cố Thủ tướng Phạm Hùng), quê ở Vĩnh Long; đồng chí Mai Thanh - Tỉnh ủy viên, Bí thư Thị ủy Rạch Giá. (Năm 1957, đồng chí Mai Thanh đã cùng với đồng chí Lâm Kiên Trì lúc ấy là Bí thư Huyện ủy, sau là Bí thư Tỉnh ủy về đất liền, bắt liên lạc với Tỉnh ủy, khu căn cứ kháng chiến Phú Quốc mất liên lạc với tỉnh.

    Thấy tình hình bất ổn, năm 1957, chính quyền Sài Gòn đưa số tù chính trị ở “Trại huấn chính Cây Dừa” về đất liền, một số bị đày ra Côn Đảo. Trong số tù chính trị bị đày ra Côn Đảo có 41 nữ tù liên kết nhau thành một tập thể “chặt không đứt, bứt không rời” chống ly khai Đảng, kiên cường vượt qua mọi hình thức hà khắc của địch, cả việc bị bắt giam vào hầm đá.

    Cùng với việc leo thang chiến tranh, tăng cường các phương tiện chiến tranh và đổ quân ào ạt vào miền Nam Việt Nam, Mỹ-ngụy chủ trương, bắt tất cả những người chúng có thể bắt được ở vùng giải phóng hoặc vùng tranh chấp, gắn bừa cho hai chữ “Việt Cộng” rồi tống vào nhà giam để làm cạn nguồn nhân lực của quân cách mạng. Từ đó, chúng chủ trương xây dựng hàng loạt trại giam tù binh Cộng sản ở Biên Hòa, Pleiku, Đà Nẵng, Cần Thơ, có cả Trại giam tù binh nữ ở Quy Nhơn... Riêng ở Phú Quốc, năm 1966, Mỹ - ngụy lại lập một trại giam ở thung lũng An Thới, cách “Căng Cây Dừa” cũ 2km, rộng hơn 400 ha.

    Trại giam gồm 12 khu, mỗi khu có 4 phân khu A, B, C, D, với trên 400 nhà giam, được gọi là “Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam / Phú Quốc”, thường được gọi là “Trại giam tù binh Phú Quốc”. Mỗi phân khu, ngoài 9 phòng dành cho tù binh ở, còn có 2 phòng nằm ngang, song song phía trước, trong đó một phòng nằm gần dãy tù binh để khi cần, gọi tù binh đến thẩm vấn, phạt vạ hoặc biệt giam trong phân khu...

    Tất cả 11 phòng kể trên đều bằng vì kèo sắt, nóc tôn, vách tôn, mỗi phòng bề ngang 5 mét, dài 20 mét, hai đầu chừa hai lối ra vào, bề ngang khoảng 8 tấc và mỗi bên vách tôn có 4 cửa sổ, dưới vách tôn có khoảng trống chừng 3 tấc, có rào dây kẽm gai. Địch bố trí một pháo đài chung quanh mỗi khu giam.

    Trên pháo đài có đặt súng đại liên, có 2 vọng gác cổng chính của khu giam. Hai xe tuần tra liên tục quanh khu giam. Một vọng tổng kiểm soát đốc canh, cứ 2 giờ địch thay phiên gác, liên tục canh gác 24/24 giờ. Ban đêm, địch còn tăng cường các toán vào vòng rào giới hạn để kiểm soát lưu động tại các phân khu và đặt thêm 10 vọng gác di động.

    Đó là một trại giam tù binh trung tâm toàn miền Nam của địch, giam giữ hơn 32.000 tù binh (nếu kể cả tù chính trị nhiều thời kỳ, con số lên khoảng 40.000 người). Đứng đầu ban chỉ huy trại giam là một tên trung tá hoặc đại úy ngụy, có lúc là một chuẩn tướng, đứng đằng sau là một cố vấn Mỹ, do một tên trung tá cầm đầu. Lực lượng canh giữ trực tiếp trại giam có 4 tiểu đoàn quân cảnh ác ôn, một liên đội địa phương quân lành nghề, một đại đội công binh, một đơn vị hải thuyền và một đội quân khuyển.

    Bọn chỉ huy ở nhà tù Phú Quốc có những tên ác ôn khét tiếng như thiếu tá Đoàn Đức Hải, trung tá Nguyễn Hữu Phước, trung tá Phan Ngọc Thủy, trung tá Bùi Bằng Dực, có cả tên chúa ngục từ thời Pháp, như đại tá Trần Vĩnh Đắc, từng là thiếu tá giám đốc “Căng Cây Dừa” thời 1953-1954, giám đốc trại giam Phú Lợi năm 1956 và bọn quản ngục tàn bạo như trung úy Hiển, trung úy Ngũ, thượng sĩ Nhu...

    Theo tài liệu của Phòng 1 - Bộ Tổng tham mưu ngụy, từ ngày 10/12/1965 về trước, những chiến sĩ vũ trang của cách mạng bị bắt bị chúng coi là những phần tử phiến loạn, chưa được công nhận là tù binh chiến tranh. Từ ngày 10/12/1965, “những phần tử phiến loạn” ấy được hưởng theo chế độ tù binh nhưng về danh nghĩa, chúng vẫn xem những tù binh này là “phiến loạn Cộng sản”.

    Sau Mậu Thân 1968, Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải ngồi vào Hội nghị Paris để giải quyết cuộc chiến tranh ở Việt Nam, từ ngày 24/8/1968 trở đi, theo Huấn thị số 6524 của Bộ Quốc phòng chế độ Sài Gòn, chúng buộc phải chính thức công nhận những phần tử vũ trang của đối phương bị bắt là tù binh Cộng sản Việt Nam, được hưởng những quy chế về tù binh.

    Việc được công nhận tên gọi “Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam / Phú Quốc” cũng là cả quá trình đấu tranh đẫm máu của những chiến sĩ cách mạng. Khi trại giam tù binh Phú Quốc hoạt động, những chiến sĩ thuộc các lực lượng vũ trang trước kia bị giam ở Côn Đảo và các nhà tù khác, lần lượt được đưa về trại giam Phú Quốc.

    Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chọn Phú Quốc để lập trại giam tù binh - nơi tập trung giam giữ số lượng lớn nhất những người yêu nước cầm súng chiến đấu chống lại chúng, bị chúng bắt được là vì Phú Quốc nằm giữa biển, cách biệt với đất liền, xa nhân dân, xa cách mạng. Đặt trại giam tù binh trung tâm ở Phú Quốc, do chúng nghĩ rằng có thể hạn chế được những cuộc đấu tranh của tù binh, dễ canh giữ, dễ đàn áp hơn ở đất liền, dễ bưng bít dư luận, tránh được những cuộc tấn công để giải thoát tù binh và hạn chế được những cuộc vượt ngục.

    Với cách nghĩ ấy, chúng đã gây ra muôn vàn tội ác “trời không dung, đất không tha” ở Trại giam tù binh Phú Quốc. Nhiều hình phạt, cách tra tấn tù nhân khốc liệt hơn cả thời Trung cổ: đóng đinh vào tay, chân, đầu; đốt dây kẽm cháy đỏ đâm vào da thịt, đục răng, trùm bao bố chế nước sôi hoặc đổ lửa than, liệng vào chảo nước sôi, đốt thiêu sống, chôn sống...

    Hơn 4.000 tù binh Cộng sản đã vĩnh viễn nằm lại ở Phú Quốc.
     
  3. westlife

    westlife New Member

    Thứ Ba, 02/06/2009 - 3:39 PM
    Hồi ức đen của viên cai ngục nhà tù Phú Quốc


    Cai ngục Bảy Nhu
    Viên cai ngục được coi là tàn ác nhất nhà lao Cây Dừa, năm nay 83 tuổi, vẫn đang sống, ăn chay trường, nhang khói niệm Phật ở khu đồi hẻo lánh ngoài đảo Phú Quốc.


    Mà không phải xa xôi huyền thoại gì, cuối năm 2008 - đầu năm 2009 vừa rồi, Đội K92 của Tỉnh đội Kiên Giang chỉ “ra quân” trong hai chiến dịch, đã phát hiện và cất bốc được tới khoảng 1.300 phần di cốt, có những hố chôn tập thể với 500 con người đã nằm cô quạnh suốt mấy chục năm bên bìa rừng.

    Có bộ xương người Cộng sản vì nước quên thân khi cất bốc, người ta vô cùng hãi hùng phát hiện ra có tới 16 cái đinh sắt khổng lồ đóng khắp cơ thể.Với cuộc truy tìm hài cốt lớn nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam này (3.000 bộ), câu chuyện về địa ngục trần gian với những con quỷ sứ đội lốt người dần được hiện lên, như thước phim quay chậm vô cùng thuyết phục.

    Bọn chúng đập vỡ mắt cá chân, dùng ván và đinh ốc ép cho vỡ lồng ngực tù nhân; dùng kìm rút móng chân móng tay, dùng giẻ tẩm dầu đốt… dương vật, dùng cây sắt nhổ dần từng chiếc răng chính trị phạm; móc mắt hoặc dùng bóng điện lớn để gần mắt cho đến khi mắt chín nổ “đòm đọp” mới thôi, luộc người trong chảo nước sôi…

    Trong hồ sơ của Trại tù binh Cộng sản Phú Quốc, hiện còn lưu giữ hồ sơ về 24 ngón đòn tra tấn “bài bản và hiệu quả” mà các viên cai ngục đều đã thực hành, đúc rút, lưu truyền trong suốt mấy chục năm nó làm sứ mệnh của địa ngục trần gian.

    Bất ngờ thay, viên cai ngục được coi là tàn ác nhất nhà lao Cây Dừa, năm nay 83 tuổi, vẫn đang sống, ăn chay trường, nhang khói niệm Phật ở khu đồi hẻo lánh ngoài đảo Phú Quốc.

    Gian nan tìm viên cai ngục

    Khi tôi có ý định đi tìm viên cai ngục từng móc mắt, nhổ răng các tù binh Cộng sản, nhiều người đã cực lực phản đối. Có người bảo, ông ta sống ẩn dật trên nương rẫy hoang vu rậm rạp ngoài xó đảo, với bầy chó hung dữ canh gác, tuyệt đối không tiếp xúc với ai.

    Có người cảnh báo: Bảy Nhu (viên cai ngục, tên thật là Trần Văn Nhu) làm Giám thị trưởng quyền sinh quyền sát một thời, hắn sống được đến giờ, là nhờ một quyền năng bí ẩn của thế lực nào đó, gặp hắn rất nguy hiểm. Tôi không tin vào những điều đồn thổi đó. Chỉ ngặt vì không tài nào lần ra con đường đến khu vực mà Bảy Nhu đang sinh sống. Và điều tôi băn khoăn nhất là khi vượt biển ra An Thới là sẽ nói gì với ông ta - một đao phủ của địa ngục.





    Đại tá, Đội trưởng Đội K92, anh Nguyễn Minh Chánh đón tôi ở TP Rạch Giá. Anh Chánh đã dẫn quân đi khắp núi rừng Campuchia xa xôi, rậm rạp trong nhiều năm, cất bốc hàng vạn bộ hài cốt bộ đội tình nguyện Việt Nam. Hiện nay, chính đội quân của anh, cũng đã tìm kiếm và quy tập được hơn 1.000 bộ hài cốt các chiến sỹ Cộng sản đã vì nước quên thân ở nhà tù Phú Quốc.

    Đại tá Chánh bảo: Tôi có gặp Bảy Nhu một lần để hỏi ông ta khai quật ở khu vực nào thì trúng địa điểm nhất. Ông ta là người tra tấn, rồi trực tiếp hoặc ra lệnh quẳng xác tù nhân ở đâu, ông ta phải nhớ chứ. Anh vào đó, rất khó tìm đường, càng khó tìm được lý do để có thể gợi cho ông ta mở miệng, khi mà ông ta đã quá mặc cảm, quá cảnh giác trước các cuộc tìm kiếm nhân chứng ác ôn của nhà lao Cây Dừa.

    Tôi giới thiệu anh với một người, người này là chỗ chí thân, lại là chỗ cùng mang nỗi mặc cảm là người quản lý của nhà tù Phú Quốc ác ôn ngày xưa kia. Họ có chung nỗi mặc cảm lớn; nhưng ông này hào hiệp, tôi mà gọi điện giới thiệu, ông ấy sẽ giúp anh.

    Người đó là ông Hai Nam. Chừng gần 70 tuổi, vốn là tiếp phẩm cho nhà lao, sau thời gian cải tạo, ông Hai Nam đã gần như xóa hết mặc cảm “diều hâu cú vọ” của nhà tù tàn ác, giờ là cán bộ văn hóa của thị trấn với bằng khen giấy khen giăng kín phòng khách, là chủ hãng nước mắm Nam Hương nổi tiếng.

    Ông Hai Nam là chỗ quen biết lâu năm và am hiểu cuộc đời Bảy Nhu. Sau cả buổi sáng thuyết phục, ông Nam dè dặt: để tôi gọi điện cho ông ta xem đã. Ông ấy càng già, càng khép mình quanh khu vườn hẻo lánh đó. “Vào đó, cháu bảo cháu là cháu ruột của chú Nam, là người nghiên cứu lịch sử nhà tù Phú Quốc, muốn qua thăm, tặng quà cho Bảy Nhu”.

    Người đàn ông râu bạc dùng chiếc Dream chở tôi đi theo những con đường dốc, qua những cánh rừng bạch đàn tối đến một ngôi nhà nhỏ. Bước vào khu vườn, ông Hai Nam thở hắt ra: “Chúng tôi khổ nhục, sống trong cái thời buổi chúng nó bắt lính tàn bạo. Trời gọi ai thì người nấy phải dạ, mà chú”. Dường như nỗi tủi phận dâng ngập lên, từ bấy đến cuối cuộc tiếp xúc với Bảy Nhu, ông Hai Nam chỉ ngồi im, khẽ vuốt vuốt bộ ria mép dày, cứng và bạc.--PageBreak--

    Lý thuyết ngụy biện của quỷ

    Kiên quyết không cho phép… chụp ảnh. Da mồi, sạm đen, tóc bạc, đầu hói, hai hàm răng gẫy mất nhiều phần, Bảy Nhu nói chuyện mệt mỏi, mắt luôn nhìn lơ đầy mặc cảm. Dù tôi và ông Hai Nam giới thiệu thế nào, Bảy Nhu vẫn luôn cảnh giác. Bảy Nhu luôn biết cách tránh những câu hỏi trực diện, kiểu như: ai nghĩ ra trò “nhổ răng” các người tù, ông đã nhổ răng họ bằng dụng cụ gì? Việc tẩm dầu vào giẻ đốt dương vật của người tù có thật không? Dù sám hối rất nhiều thông qua việc ăn chay và niệm Phật, nhưng trong ký ức đen đầy máu, hình như Bảy Nhu vẫn kinh hãi những người đã có ý định trả thù mình.

    Bảy Nhu luôn ngụy biện cho sự tha hóa và man rợ của mình: Tui quê ở Đồng Tháp. Sau giải phóng, nhiều người rủ tôi về Đồng Tháp sống để quên hẳn cái chỗ tội ác này đi, nhưng tôi không về. Đã 4 lần các thế lực ở Mỹ muốn tôi nhập cảnh sang bên đó, để đền đáp những cống hiến của tôi với đế quốc và chính quyền Sài Gòn cũ. Nhưng tôi muốn ở lại đây.

    Sinh năm 1926, năm 20 tuổi tôi đã bị giặc tổng động viên bắt phải đi lính cho chúng. Sau này, tôi tiếp tục phục vụ trong chính quyền ngụy. Năm 1968, khi Trại tù binh Cộng sản Phú Quốc vừa mới được chính quyền Sài Gòn thành lập, tôi được điều ra hòn đảo này. Lúc đầu, nó bảo, ra đảo 3 tháng sẽ được về với vợ ở Sài Gòn, rồi 6 tháng, rồi ở đến khi nhà tù giải thể luôn.

    Gia đình tôi ở Đồng Tháp, có em trai, chị dâu, cháu tôi đều tham gia hoạt động Cách mạng. Vì thế, các “ông” quản lý nhà tù và chính quyền Sài Gòn thử thách tôi ghê lắm, họ theo dõi tôi từng tí. Vì thế tôi phải nỗ lực làm việc (tra tấn tù nhân thật tàn ác?), để chứng minh là mình hết lòng trung thành với họ. Kẻo họ sẽ thủ tiêu. Dần dà…

    Dần dà, Bảy Nhu đã trở thành người phụ trách các phân khu nhốt tù binh Cộng sản, thành người trực tiếp vặn bẻ răng, lấy mắt cá chân của người tù. Nhiều tài liệu cho thấy, Bảy Nhu thậm chí còn sưu tầm răng mà hắn đã vặn của những người tù, để trong một cái mũ sắt.

    Đôi mắt lạnh, giọng nói của Bảy Nhu rít lên, hắn cầm một thanh sắt, bắt các người tù há miệng nói: “Mày cho tao xin một cái răng, mày cho cái nào…?”. Rồi hắn gõ mạnh, giật tới, có người tù ngất đi. Lúc tỉnh lại, Bảy Nhu bảo: Mày mà để phun giọt máu nào ra sàn nhà, tao sẽ giết chết, mày hãy uống máu của mày, nuốt hết. Rồi thò tay vào mồm, nhặt trả tao cái răng của mày. Tôi rợn người khi nghe tận tai giọng kể của người tù Cộng sản kiên cường bị nhổ răng ấy.

    Hàng trăm nhân chứng khác cũng đã kể như vậy khi đến thăm lại chiến trường xưa Phú Quốc, kể đến mức, các cô hướng dẫn viên ở nhà tù Phú Quốc nghe quá quen thuộc, nhiều người nghe tin Bảy Nhu còn sống thì hùng hổ leo đồi đi tìm đòi… “giết chết chúng nó”. Nhưng khi thấy Bảy Nhu ăn chay, niệm Phật, già nua quá thể, họ đã dừng lại. Họ lại tha tội cho Bảy Nhu một lần nữa.




    Khi đoàn khai quật cả nghìn bộ hài cốt ngoài tượng đài Nắm Đấm (gần nhà tù) đang rầm rộ dùng máy xúc máy ủi bóc đất đá tìm kiếm các phần thi thể của 4.000 người tù Cộng sản bị chôn vùi dưới 5-6 mét đất sâu, thì có một người lính già, mặc quân phục bạc màu đến miệng hố ngồi bần thần.

    Trung tá Nguyễn Văn Cao, người phụ trách công trường bèn bắt chuyện. Ông căm phẫn kể: Sau nhiều năm ở nhà tù, lúc giải phóng (1975), ông đã quyết tâm sống ở gần khu vực… hố khai quật, vì nỗi ám ảnh địa ngục trần gian. Địch đã giam ông 6 năm, qua sáu bảy cái khu tù binh, đến trước giải phóng miền Nam mới được địch mang ra tận sông Thạch Hãn (Quảng Trị) trao trả.

    Ông trực tiếp bị chính Bảy Nhu (người hàng xóm hiện nay) tra tấn bằng cách đè ra nhổ mất 6 cái răng. “Tui nằm trong tù từ năm 1966, suốt gần 7 năm, tui chỉ dám tính đường chết, chứ tịnh không có dám tính đường sống. Nó bắt tôi há mồm, hỏi cho xin cái răng, cho cái nào? Tui chán quá, bảo lấy cái nào thì lấy. Nó ghè thanh sắt vào, nhổ răng tui. Giật gẫy, nó bắt tui thò tay vào miệng mình lôi từng cái răng đỏ quạch máu ra, đặt lên bàn cho nó xem. Rồi nó bắt tui phải tự uống hết số máu chảy trong miệng tui ra, một giọt nào ứa ra ngoài, nó sẽ đánh chết” - cụ Út Minh nói.

    Bảy Nhu thở dài: “Nhiều người tù từng bị tôi tra tấn, họ đến thăm lại chiến trường xưa, họ kể lại những năm tháng họ dùng thìa dĩa đào hầm bí mật trốn khỏi nhà tù, rồi họ vỗ vai tôi. Điều đó làm tôi thấy hổ thẹn!”. Ông Nhu khoe tôi tấm ảnh chụp chung với các người tù quả cảm đến kinh hoàng.

    Có người mất tới 91% sức khỏe, bị mù mắt, bị ông Nhu vặn răng, nhưng khi gặp lại vẫn chụp ảnh chung, vẫn tha thứ tất cả. Nếu tôi từng cảm thấy kinh hoàng vì tội ác ở nhà tù Phú Quốc, thì giờ đây, điều làm tôi như “chết lặng” đi là sự tha thứ của đồng bào mình, đánh kẻ chạy đi không ai đánh kẻ chạy lại.

    Khi Nhà nước tiến hành phục dựng nhiều hạng mục của nhà tù Phú Quốc, trưng bày những tấm ảnh thảm khốc về việc tra tấn, giết chóc tù nhân, Bảy Nhu xin được giúp những người làm việc đó dựng lại tội lỗi của chính ông ta và chế độ mà ông ta hầu phục.

    Ông chỉ cho cán bộ biết từng quả đồi, nơi nào sẽ chứa nhiều hài cốt người tù nhất. Đồi 37, đồi 100, cứ đào khắc thấy cốt, cả nghìn bộ. Cả trăm vụ vượt ngục, vụ đả đảo chế độ nhà tù, hội họp, rải truyền đơn, treo biểu ngữ; vụ nào khi đem xử lý, thậm chí cũng có người bị hành quyết ngay lập tức.

    Bị tra tấn, luộc người, đóng đinh khắp cơ thể, thì kiểu gì chẳng chết. 4.000 người chết, trước năm 1971, ai chết thì chôn rấp ra ngoài bìa rừng. Xe quân cảnh chở xác người ra, ném xuống đấy, rồi nó chạy vội về kẻo sợ du kích bắn tỉa. Cho nên, dù khai quật cả nghìn phần di cốt như vừa qua, cũng chỉ gặp một vài tử sỹ có tên họ kèm theo (là ông Nguyễn Văn Khai, người Thanh Hóa).

    Vì sao xuất hiện những bộ cốt có tên họ? Vì khi đồng đội bị chết, nhiều bạn tù đã thương cảm viết tên người xấu số vào mảnh giấy rồi gói trong giấy nilon, để hy vọng sau này con cháu sẽ có thể tìm thấy các bậc Anh hùng.

    Khu bãi tha ma chồng chất thây người tù đó, thật là đáng sợ. Giờ đây, khi tôi chỉ cho cán bộ khai quật, người ta không lý giải được là bởi tại làm sao mà thây người bị vùi dưới 5-6 mét đất sâu hoắm. Xe cuốc gào rú suốt ngày đêm, mà dưới đất đen vẫn còn xương người.

    Tôi còn nhớ, năm 1968, trại tù binh có tổ chức san ủi khu vực nghĩa địa, cho nên xương người bị khỏa lấp hết. Có người bảo, nhân viên nhà tù người ta làm như vậy, là bởi vì họ sợ các tổ chức nhân quyền, giám sát quốc tế sẽ đến kiểm tra, sẽ phát hiện ra bao điều tàn độc, vô lối, thất nhân tâm.

    Sau năm 1971, trước sức ép nhiều mặt, Ban quản lý nhà tù bèn cho thành lập khu “Nghĩa địa tù binh Cộng sản” rộng 11.000m2, với “cổng chào” là hai cây thông khổng lồ, một thanh ván bắc ngang trang trí biển hiệu đàng hoàng. Thế nhưng hình thức tra tấn thì vẫn đủ 24 “món” của ngục A Tỳ.--PageBreak--

    Kỹ nghệ giết người

    Bảy Nhu dè dặt trong chuyện trò đến mức… cao thủ. Có lẽ cái nghề thẩm vấn, tra khảo moi thông tin, tạo dựng các ăng ten (như cách nói của ông ta) để điều tra, ly gián mấy chục nghìn người tù binh Cộng sản suốt nhiều năm đã tạo cho ông ta sự bài bản cáo già trong giao tiếp đó?

    Ông ta thích nói về những sám hối và nỗi khổ của mình khi sứ mệnh đen tối của nhà tù Phú Quốc kết thúc, ông ta chung sống với những người còn mãi mãi hãi hùng vì tội ác của ông và đồng bọn:

    “Tôi đi cải tạo, nhờ tinh thần cải tạo tốt, tôi được trở về nhà với đàn con của mình sớm hơn so với “bản án” khoảng 2 năm. Thế mà người ta kéo đến, người ta dằn hắt, bảo rằng sao thằng ác ôn nó lại được tha về. Tôi về, mặc áo lành người ta cũng chửi, mặc áo rách người ta cũng chửi. Nhiều người cứ xông lên đòi giết chết tôi.

    Chính quyền cơ sở đã bảo vệ tôi. Sau này, tôi thấm thía hai chữ “Đồng bào” của người Việt Nam mình, họ tha thứ cho tôi, nghe nói ở nước ngoài, chữ Đồng bào không dịch được ra tiếng Tây, quý hóa lắm. Tôi tình nguyện làm công tác xã hội để chuộc lỗi lầm, tôi am hiểu về các hố chôn tập thể, các quy cách thủ tục, các vấn đề còn gây nhiều tranh cãi ở nhà tù.

    Tôi ở lại gần khu vực nhà tù mà không về Đồng Tháp hay ra nước ngoài theo các quan thầy, là vì lẽ đó. Tôi tiếc là hồi khai quật được rất nhiều hài cốt ở khu vực tượng đài Nắm Đấm, tôi đã bảo người ta rằng, tôi nhớ rõ vụ san ủi năm 1968, phải đào tiếp xuống để cất bốc các chiến sỹ lên, họ sợ làm như thế sẽ gây hư hại đến di tích.

    Y như rằng, bây giờ lại tiếp tục phải đào lại và thấy rất nhiều cốt. Nhiều khu vực, rễ cây ăn hết các phần thi thể, rất tội. Tôi bảo, hãy cứ đào, nhiều chỗ chỉ còn đất đen hay đất màu hoàng thổ, lại có mấy miếng vải thôi, cũng cứ phải bốc. Vì sao? Vì rằng, đem đất ấy bỏ vào chậu nước, nếu thấy nổi váng lên, là đất có xương cốt thịt da người tù đấy. Kinh nghiệm của tôi là như thế mà”.

    Nhiều đoạn Bảy Nhu lại tìm cách ngụy biện để cố chạy trốn khỏi tội ác tày trời của mình:

    “Thời buổi trời gọi ai người nấy dạ mà. Ở đâu thì phải theo đó. Thời buổi mà mình ở trong tay nó thì nó bảo mình đi lính phải đi lính thôi, chứ mình không có biết phải cãi lại nó như thế nào đâu. Nó bảo đi ít ngày rồi về, ai ngờ đi mãi (đến giải phóng). Sau này mình mới hiểu được vấn đề tội ác của mình, sau này mới hiểu được xã hội chủ nghĩa là cái xã hội tốt đẹp thật sự. Thật sự trước đây không biết cái đó, chứ nó gây tội ác xong hết trơn, nó bỏ chạy bỏ lại một mình mình. Lúc mình ở ngoài đảo (làm cai ngục) với bọn ở ngoài đó, nó nói bậy lung tung. Mình không nhận ra là, bọn tay sai của chế độ cũ kia, nó chỉ làm lung tung kiếm tiền thôi, chứ không có lý tưởng gì hết. Nó bảo là Việt cộng ốm (gầy) đến mức treo tàu lá chuối không rớt (rơi). Nó đang đánh vào tâm lý chiến mà mình không biết”.

    Có khi bị hỏi độp thẳng tưng, ông ta cũng tiết lộ nhiều chuyện chưa bao giờ công luận, sách sử từng “nghe”:

    Hỏi: Hồi đó ông chấp nhận làm nhiều việc ác quá, chắc được giặc nó trả lương cao?

    Bảy Nhu: Lương tôi là 1.400 đồng, tiền bây giờ trả không nổi đâu (ý là không ai có tiền mà trả được mức lương ấy đâu). Bấy giờ chỉ chưa đến 10 đồng một chỉ vàng, mà mình nhận 1.400 đồng, tức là 14 cây vàng/tháng. Nuôi vợ con với lại ăn nhậu thoải mái!

    Bảy Nhu hồi tưởng quá khứ với giọng mệt mỏi nghe như vọng từ âm phủ. Bây giờ, Bảy Nhu đã ngoài 80 tuổi, ở tuổi ấy, như người ta nói, quỷ thần không chấp nhặt họ nữa. Có người bảo sao độc ác như vậy mà Bảy Nhu vẫn sống. Nhưng tôi nghĩ: ông ta phải sống để chứng kiến lòng nhân ái của con người trên mảnh đất này đối với ông ta, sống để những ký ức đen đầy máu chảy hành hạ ông ta.

    Cho dù ông ta ăn chay trường và niệm Phật cũng chưa chắc đuổi được quỷ sứ ra khỏi con người mình. Tôi cảm thấy nhẫn tâm hỏi về cái ác, cái việc đóng 16 cái đinh dọc một cơ thể người, đóng đinh to, cắm phập sâu hoắm đến mức mấy chục năm sau khi Nhà nước ta tổ chức đào hố chôn tập thể lên, những cái đinh vẫn còn nguyên.

    Bảy Nhu im lặng, ông ta kể về việc chúng nó dùng ván có đinh tra tấn người, về việc có người bị đánh chân tay gẫy cù lìa làm hai ba đoạn, có khi nó xé người ta làm bốn mảnh. Chúng nó chứ không phải là Bảy Nhu. Sẽ không ai bất ngờ khi ông Nhu nói thế và thậm chí phủ nhận nhiều tội ác của mình - dẫu rằng đã có hàng nghìn tù nhân sống sót mà không có mắt cá chân, không có răng, mù mắt, tàn phế đã về lại Di tích Nhà tù Phú Quốc và tố cáo Bảy Nhu cùng đồng bọn…

    Tôi cũng không bất ngờ khi trích các báo cáo truy tìm hài cốt của Sở LĐTB&XH Kiên Giang năm 2008 (với các trường đoạn viết về các di cốt vĩnh viễn không bao giờ được tìm thấy, bởi ban cai quản nhà tù Phú Quốc đã lùa các tù binh lên máy bay, ném xuống Vịnh Thái Lan) cho Bảy Nhu nghe, ông ta thở hắt như đuổi khách: “Hồi xưa máy bay quân sự là của Mỹ thôi ấy, toàn là người Mỹ lái chứ bọn tôi lái đâu mà chúng tôi biết”.

    Tôi rời bỏ ngôi nhà của Bảy Nhu như một đứa trẻ chạy khỏi ngôi nhà của một con quỷ trong nỗi kinh hãi tưởng vỡ cả trái tim. Không ai có thể cầm lòng về những người con đấu tranh cho tự do và độc lập của dân tộc đã bị tra tấn vô cùng man rợ ở hòn đảo này.

    Tôi biết rằng, tôi sẽ không bao giờ có đủ can đảm để trở lại ngôi nhà của Bảy Nhu nữa cho dù ở đó có một Bảy Nhu già nua đang từng ngày từng đêm sống với những hồi ức đen đầy máu và tự đày đọa mình bằng chính tội ác của mình.

    Bây giờ, thi thoảng tôi vẫn gặp những cơn ác mộng và thấy cảnh những cai ngục nhà tù Côn Đảo vặn những chiếc răng của những tù nhân ở đó. Những hành động ấy chỉ là của những con quỷ ác độc. Có ai, hay có kẻ nào biện hộ cho những hành động thú tính ấy không?

    Nhưng dân tộc này đã tha thứ cho một trong những ác quỷ đó – Bảy Nhu. Với tất cả những gì Bảy Nhu đã làm với những con người bị giam cầm ở Côn Đảo thì ông ta đáng bị tử hình 10 lần. Nhưng Cách mạng và nhân dân đã tha tội cho ông ta, nghĩa là đã hồi sinh cho ông ta 10 lần
     

Chia sẻ trang này