Thư gởi người bận rộn (Đỗ Hồng Ngọc)

Thảo luận trong 'THÔNG ĐIỆP CUỘC SỐNG' bắt đầu bởi tandai, 10/09/2008.

  1. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Cuộc sống xung quanh chúng ta ngày càng sôi động, cuồn cuộn. Ai ai cũng bận rộn hết sáng lại chiều, tối tăm mặt mũi...

    Xin trích đăng lại một số bức "thư gởi người bận rộn" của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, mong trong cái thế giới người bận rộn ấy chúng ta vẫn có thể tìm được vài bước chân thong thả, nhàn tản, đủ để... thưởng thức hương vị của cuộc sống... :rolleyes:
     
  2. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Chữ nhàn

    [FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif]Chữ nhàn là chữ làm sao![/FONT] Nguyễn Công Trứ đã kêu lên như vậy, từ mấy trăm năm trước. Kêu chứ không phải hỏi. Bởi vì trước đó ông đã giải thích rõ ràng rồi: Thị tại môn tiền náo/ Nguyệt lai môn hạ nhàn. Chợ ở cửa trước thì "náo", còn trăng vào cửa sau thì "nhàn". Thế thôi! Không biết ai là người đầu tiên đã nghĩ ra một định nghĩa đơn giản mà thâm thuý đến vậy qua cách viết chữ tượng hình của người Trung Hoa: giữa chữ môn mà có chữ thịthì thành náo, còn giữa chữ môn mà có chữ nguyệt thì thành nhàn. Thời buổi thị trường "toàn cầu hoá" như chúng ta đang sống hiện nay thì chợ ở tứ phía, ở ngay trong nhà cũng có chợ chen vào, cho nên không dễ mà tìm một chút trăng qua cửa sổ! Ở các nước Âu - Mỹ, workamia là một thứ bệnh "điên vì mê làm việc" đến nỗi tình trạng tâm thần, tự tử, tim mạch... ngày càng tăng. Ở Châu Á, bệnh karoshi chẳng hạn, một thứ dịch bệnh do làm việc quá nhiều, quá sức, làm như điên, đến nỗi sinh nhiều biến chứng và gây cả tử vong như chúng ta đã từng nghe thấy ở một số doanh nhân Nhật và đang lan ra nhiều nước. Liên hợp quốc đưa "quyền nhàn tản" vào trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền để khuyến khích người ta nghỉ ngơi mà chả ai thèm nghe! Nghe sao được, nhàn hay không là ở mỗi người chứ. Bắt người ta làm việc, cưỡng bức lao động thì dễ chớ ai nỡ bắt người ta nhàn, khi người ta muốn được "bận rộn"!

    Thực ra nhàn cũng có nhiều cách: có cách nhàn nhã, có cách nhàn hùng hục. Nhàn nào cũng tốt, miễn là đừng quá. Nguyễn Công Trứ ưa kiểu nhàn "Gót tiên đeo đủng đỉnh một đôi dì. Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng." Một đôi dì đeo thì sợ khó mà đủng đỉnh, khó mà ngất ngưởng. Rồi ông còn ganh tị với Tô Đông Pha, đời Tống, hơn ngàn năm trước: "Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất. Để ông Tô riêng một thú thanh tao!" Chẳng qua là ông Tô đi chơi thuyền trên sông, ngắm trăng với vài người bạn, đánh cờ, làm thơ xướng hoạ, dĩ nhiên là cũng có vài... người mẫu đi theo mài mực, rót trà! Ta bây giờ thỉnh thoảng cũng đi thuyền rồng trên sông Hương, có đàn có sáo..., có tiếng ca tiếng hát náo nhiệt, thuyền ngược thuyền xuoi tấp nập đó thôi. Nhưng cái nhàn của ta là nhàn ồn, không phải nhàn nhã! Sau một ngày vất vả, "người bận rộn" nào cũng sẵn sàng xách vợt ra sân làm vài ván tennis. Cởi veston cà vạt ra, mặc áo pull quần short vào, chạy ngược chạy xuôi hùng hục, toát mồ hôi hột, chẳng phải cũng là nhàn ư? Nhưng đó là cái nhàn... hùng hục. Nhàn nhã là phải có "nguyệt lai môn hạ" kìa. Vì thế mà Trịnh Công Sơn mới có bài Nguyệt ca rất dễ thương của anh: "Từ khi trăng là nguyệt cho tôi bóng mát thật là". "Thật là" sao thì anh không nói rõ nhưng chắc chắn anh đã có được sự nhàn nhã, chẳng thua gì ông Tô ngày xưa. Nhưng sau đó anh thật thà thú thiệt: "Từ khi trăng là nguyệt, tôi như từng cánh diều vui. Từ khi em là nguyệt, trong tôi có những mặt trời"! Thì ra cũng tại em thôi. Tại em là nguyệt mà trăng của tôi đã biến thành những mặt trời nóng bức, nhễ nhại, vất vả, bận rộn đó thôi. Lúc đó hẳn nhạc sĩ cũng đã kêu lên: chữ nhàn là chữ làm sao!

    Hẹn thư sau. Thân mến.


    (Nguồn: Đỗ Hồng Ngọc. 2005. Thư gởi người bận rộn. TP. HCM: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, tr. 9-10.)
     
  3. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Không có thì giờ!

    Người ta phỏng vấn một bà già gần 90 tuổi rằng nếu được sống lại cuộc đời đã qua một lần nữa, bà sẽ sống như thế nào?

    - "Nếu được sống lại cuộc đời đã qua một lần nữa - bà già nói - thì tôi sẽ dám... phạm nhiều sai lầm hơn. Tôi sẽ ngờ nghệch hơn là tôi đã ngờ nghệch trong cuộc đời này. Tôi sẽ thảnh thơi hơn, linh hoạt hơn. Tôi sẽ coi ít thứ nghiêm chỉnh hơn. Tôi sẽ trèo núi lội đèo nhiều hơn, bơi lội nhiều hơn... Tôi sẽ ăn nhiều kem hơn. Dĩ nhiên tôi sẽ gặp nhiều rắc rối hơn nhưng tôi sẽ thực tế hơn là chỉ mơ mộng. Tôi sẽ bớt... lành mạnh hơn. Ôi, tôi đã có những khoảnh khắc của đời mình và tôi muốn có nhiều hơn những khoảnh khắc đó, cái nọ nối cái kia, cái nọ tiếp cái kia thay vì tôi cứ sống để chờ đợi... Nếu tôi được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa thì tôi sẽ đi chân không nhiều hơn, sẽ bớt mang theo dù và dầu nóng, bình thuỷ các thứ... Tôi sẽ hái nhiều hoa cúc hơn..."

    Thỉnh thoảng có lẽ ta cũng nên tự hỏi mình một câu như vậy. Có phải ta cũng thường sống trong nhớ tiếc hoặc đợi chờ, mà quên đi cái quà tặng quý báu của cuộc sống chính là sự hiện diện của ngày hôm nay, của giây phút này, của ở đây và bây giờ. Tiếng Anh có một từ khá tuyệt: present, vừa có nghĩa là hiện tại, sự hiện diện, có mặt, lại vừa có nghĩa là món quà. Ta nghe nơi này nơi khác người ta luôn nói, không có thì giờ, không có thì giờ. Đến nỗi một nhà thơ phải kêu lên: ... Không có thì giờ! Chim lấy đâu mà về tổ. Tôi lấy đâu mà làm thơ. Em lấy đâu mà đọc những bài thơ tôi sắp viết! (Nguyên Sa). Tiếng chim và khế ngọt vẫn có đó, ánh nắng và sóng biển vẫn có đó, đèo cao và suối mát vẫn có đó, nhưng... hãy đợi đấy, còn phải dành thì giờ để nhớ nắng hôm qua, mưa năm nọ, tiếng chim ngày cũ, rồi còn dành thì giờ để mong ngóng tương lai, sống trong tương lai như cô nàng Perrette mang bình sữa ra chợ! Ta chờ... lớn. Chờ thi đậu. Chờ thành đạt. Chờ có tiền. Chờ cưới vợ. Chờ đẻ con. Chờ con lớn... Chờ con thi đậu. Cứ thế. Cho đến một hôm thảng thốt: "Rồi tàn mùa xuân, rồi tàn mùa hạ, một ngày đầu thu..." (Trịnh Công Sơn). Mùa xuân sao không đi hái lộc, mùa hạ sao không dẫn bầy em nhỏ đi tắm sông? "Hạnh phúc rất đơn sơ" vậy mà Khổng Tử suốt đời quần quật chỉ mong được thế đối lần! Quả thật chúng ta thường sống với dĩ vãng, một thời đã qua hoặc sống với tương lai, một thời chưa tới. Còn hiện tại thì tối tăm mặt mũi; không có thì giờ! Không kịp ăn sáng, không kịp tắm (không kịp thay đồ?). Hộc tốc. Luôn luôn hộc tốc. Nhai ngồm ngoàm. Đi vội vàng. Thở hào hển. Và hùng hục. Lâm Ngữ Đường hơn nửa thế kỉ trước đã chê người Mĩ có ba cái tật xấu là luôn muốn tăng hiệu năng, muốn đúng giờ và muốn thành công. Ông nói: "Họ luôn cau có và quạu quọ vì ba cái tật đó đã cướp đi của họ sự thư nhàn, lại còn làm cho họ luôn bị căng thẳng thần kinh vì luôn cầu toàn trách bị! Viên chủ bút Mĩ lo bạc đầu vì muốn không có một lỗi in nào trong tạp chí của ông ta, còn viên chủ bút Trung Hoa (dĩ nhiên, cách đây hơn nửa thế kỉ!) khôn hơn, để cho độc giả có cái thú tìm ra được ít nhiều lỗi trên báo! Đời sống bây giờ biến người ta thành cái... đồng hồ. Người Mĩ sống như một học sinh tiểu học, giờ nào việc đó, từng giờ từng phút". Rồi ông kêu lên: Đời sống mà như vậy thì còn giá trị gì nữa! (Sống đẹp, Lâm Ngữ Đường, bản dịch Nguyễn Hiến Lê). Ngày nay thì các "tật xấu" đó đã toàn cầu hoá, đã trở thành bệnh của thời đại, đến nỗi bây giờ người ta bị cao huyết áp, bị tim mạch, bị trĩ, bị bón... cũng vì không có thì giờ! Nguyễn Công Trứ nói: "So lao tâm lao lực cũng một đàn/ Người trần thế muốn nhàn sao được?" Ý ông là chỉ có tiên mới sướng. Nhưng bây giờ ta cũng có tiền rồi, mà có tiền thì mua tiên cũng được quá đi chứ. Tiện nghi ngày càng cải thiện. Đằng vân giá võ, thiên lí nhãn, thuận phong nhĩ, thần giao cách cảm không thiếu thứ gì! Bấm cái nút gặp ngay người trong mộng. Trò chuyện với người cách xa nửa vòng trái đất như đang ngồi trước mặt... Thế mà vì sao ta không được "sướng như tiên"? Có lẽ là do cái nhu cầu giả tạo cứ ngày càng dày đặc thêm, cứ nhồi nhét mãi rồi thì đến một lúc tưởng là nhu cầu thật. Đẻ con thì phải đẻ mổ, chọn giờ để mong sau này con được làm vua. Ai cũng làm vua cả thì ai sẽ là thường dân cho vua trị vì? Nhưng vua đâu chẳng thấy chỉ thấy nhiều trẻ con bây giờ phải có chất tạo... thông minh. Làm như người xưa nay không có các sản phẩm đó thì thế giới chỉ toàn người ngu dốt!

    Cho nên Tô Đông Pha mới buông thuyền sông Xích Bích, Bạch Cư Dị mới xuống ngựa dừng chèo ở bến Tầm Dương, và Nguyễn Công Trứ mới... mơ ước:

    Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch
    Tiêu dao nơi cùng cốc thâm sơn
    Nào thơ nào rượu nào địch nào đờn
    Đồ thích chí chất đầy trong một túi...
    (Kẻ sĩ)

    Bây giờ "đồ thích chí" ta còn có thể chất đầy "trong một xe" đời mới, chỉ "không có thì giờ!" thôi.

    Hẹn thư sau. Thân mến.

    (Nguồn: Đỗ Hồng Ngọc. 2005. Thư gởi người bận rộn. TP. HCM: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, tr. 11-14.)
     
  4. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    ... Đo rồi đếm

    [FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif]Bùi Giáng có những câu thơ thật dễ thương:
    [/FONT]
    [FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif]Một đời lận đận đo rồi đếm[/FONT]
    [FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif]Mỏi gối người đi đứng lại ngồi![/FONT]​
    [FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif]
    Dĩ nhiên là Bùi Giáng "chọc quê" chúng ta, những người luôn cảm thấy mình bận rộn, hết đếm lại đo, hết toan lại tính, luôn bức bách về thời gian, về không gian, về cả những điều không thể đo đếm được như tình yêu, hạnh phúc, sức khoẻ... Nói Bùi Giáng "chọc quê" bởi bản thân ông thì bạt nội mây ngàn, mọi thứ chẳng qua "chơi thôi mà" như ông vẫn thường nói.

    Một người nằm mơ thấy mình đang phỏng vấn Thượng đế.

    - Mời vào! Ngươi muốn phỏng vấn ta à? Thượng đế cười.

    - Vâng ạ! Nếu ngài có thì giờ...

    - Thời gian của ta là vô tận! Ta có thể làm bất cứ điều chi ta muốn. Nào mời...

    - Điều gì ở loài người làm cho Ngài ngạc nhiên nhất sau khi Ngài đã tạo ra họ?

    - À, à... Đó là lúc còn nhỏ thì họ mong cho mau lớn, khi lớn lên rồi thì mong cho nhỏ lại... À, đó là họ phung phí sức khoẻ để kiếm cho thật nhiều tiền, rồi bỏ tiền đó ra để phục hồi sức khoẻ... À, còn nữa! Lúc nào họ cũng lo lắng, toan tính cho tương lai... để rồi chẳng sống trong tương lai nữa mà cũng chẳng sống trong hiện tại...!

    Chuyện còn nhỏ mong cho mau lớn, lớn rồi mong nhỏ lại làm nhớ tới một chuyện ngụ ngôn. Chuyện kể rằng có một vị hoàng tử muốn mau lớn để làm vua thay cha... Một ông Tiên hiện ra cho hoàng tử một cuộn chỉ, dặn rằng muốn mau lớn thì cứ việc kéo cuộn chỉ đó ra. Hoàng tử kéo cuộn chỉ thật nhanh và lớn cũng thật nhanh, được lên ngôi báu, tam cung lục viện, đánh nam dẹp bắc, chiến công lừng lẫy... Cho đến một hôm, nhà vua giật mình thấy cuộn chỉ sắp hết, vội vàng cuốn ngược lại thì không sao được nữa!

    Còn chuyện lúc nào cũng lo lắng cho tương lai? Chẳng phải chúng ta đã bao nhiêu lần hẹn... với mình hãy đợi đấy, hoặc an ủi mình rồi sẽ biết đó ư? Kết quả là ta chẳng sống trong tương lai mà cũng chẳng sống trong hiện tại mà chỉ sống trong toan tính, đếm đo...

    Còn sức khoẻ? Hỏi sức khoẻ là gì chắc chắn ta sẽ lúng túng, không trả lời được, nhưng mất sức khoẻ thì biết ngay. Cũng như hạnh phúc. Hạnh phúc là gì không biết, nhưng một khi mất thì biết.

    Sức khoẻ không phải chỉ là không có bệnh tật. Sức khoẻ là một tình trạng sảng khoái (well being) về thể chất, tâm thần và xã hội (WHO). Do vậy, bác sĩ chỉ có thể giúp ta chữa trị bệnh tật chớ không giúp ta tạo nên sức khoẻ. Phung phí sức khoẻ để kiếm cho thật nhiều tiền, rồi dùng tiền đó để phục hồi sức khoẻ... thì đến Thượng đế cũng phải... ngạc nhiên là vậy!

    Im lặng một hồi lâu, người phỏng vấn có vẻ ngậm ngùi, rồi đánh bạo cầm tay Thượng đế hỏi: "Với tư cách là một người cha, Ngài sẽ dạy gì cho các con Ngài?" Thượng đế mỉm cười trả lời:

    - Rằng ta không thể buộc người khác phải yêu thương mình mà phải tự mình trở nên dễ thương...

    - Rằng một người giàu nhất không phải là một người có nhiều của cải nhất mà là người có ít nhu cầu nhất...

    - Rằng hãy độ lượng với chính mình, vì người khác độ lượng với ta thường... không đủ...

    Dĩ nhiên chẳng ai có thể buộc người khác phải yêu thương mình nhưng làm cho mình trở nên... dễ thương thật không dễ chút nào! Có người nghĩ rằng cách làm cho mình dễ thương là mặc áo... hở rún, quần hở lưng, in những dòng chữ kêu gọi: Love me! Kiss me!... Mà như vậy, chúng ta chỉ làm cho mình trở nên... dễ ghét hơn mà thôi! Còn hãy độ lượng với chính mình là một lời khuyên hết sức chí lí. André Maurois trong Lettres à l'inconnue (Thư gởi người đàn bà không quen biết, bản dịch Nguyễn Hiến Lê) cũng viết: "Đừng bao giờ nói xấu cô nhé! Các bạn cô sẽ nói xấu cô, như vậy đủ rồi!" Vâng, như vậy đủ rồi!

    [/FONT]
    [FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif]"Bất ngờ giây phút thoáng nhanh[/FONT]
    [FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif]Sát na gay cấn hoá thành chiêm bao!"[/FONT]
    [FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif](Bùi Giáng)[/FONT]​
    [FONT=Verdana, Arial, Helvetica, sans-serif]
    Hẹn thư sau. Thân mến.


    [/FONT][FONT=Arial, Helvetica, sans-serif](Nguồn: Đỗ Hồng Ngọc. 2005. Thư gởi người bận rộn. TP. HCM: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, tr. 22-24.)[/FONT]
     
    Chỉnh sửa cuối: 10/09/2008
  5. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    ... Thì hãy cứ vui!

    Tết năm 2004, tại một Hội hoa xuân, ở gian hàng Thư pháp thấy có một tảng đá khá lớn khắc bằng những chữ rất đẹp hai câu thơ "Lợi danh như bóng mây chìm nổi/ Chỉ có tình thương để lại đời" mà không thấy ghi tên tác giả. Hỏi, người ta nói ai cũng biết là của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương rồi, còn ghi tên tuổi nữa làm chi!

    Nhớ Tết năm trước, tôi cũng nhận được một tấm thiếp Xuân của một bạn đồng nghiệp, trên thiếp có mấy câu thơ in sẵn, viết kiểu thư pháp, cũng không ghi tên tác giả: Còn gặp nhau thì hãy cứ vui/ Chuyện đời như nước chảy hoa trôi/ Lợi danh như bóng mấy chìm nổi/ Chỉ có tình thương để lại đời. Tự dưng trong lòng bỗng có chút rộn ràng, có chút hân hoan mà không rõ vì đâu. Lẽ nào vì thơ Hỷ Khương đã sớm thành ca dao, tục ngữ, đã sớm đi vào những cánh thiệp mừng Xuân, mang lời chúc tốt đẹp đầu năm đến cho mọi người, rồi bây giờ thơ Hỷ Khương còn được viết lên đá như nhắc nhở nhau một lẽ sống? Lẽ nào thơ Hỷ Khương đã sớm được người ta không còn biết là của ai mà ai cũng nhớ, cũng thuộc đôi câu như vẫn nhớ vẫn thuộc câu hò "Chiều chiều trước bến Văn Lâu, ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm, ai nhớ ai mong..." của nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị mà ai cũng tưởng là một khúc hát dân gian đã đi vào lòng người đâu như từ muôn năm cũ, mà mỗi lần nghe hò lại thấy rơn người với nỗi "chạnh lòng nước non" của người xưa. Thì ra là con giòng cháu giống! Tôn Nữ Hỷ Khương là con Út của nhà thơ Thúc Giạ Thị. Thơ mà đến được chỗ ai cũng tưởng là của chung, là ca dao, là khúc hát dân gian thì thật là tuyệt vời! Thì ra thơ là tiếng nói của lòng phát ra thành lời nên hẳn đã động đến "thốn tâm thiên cổ"! Kinh Thi từ ngàn năm trước đã chẳng nói "Thi giả, nhân tâm chi cảm vật nhi hình ư ngôn chi dư dã" (Thơ đã là lòng người ta cảm vật ngoài mà hiện ra ở khi nói - Tản Đà dịch). Thơ Hỷ Khương giản dị, chân thật, như là những tiếng nói tự đáy lòng thành vần thành điệu, không cầu kì, trau chuốt, làm duyên làm dáng dẫu "lá ngọc cành vàng". Bốn mươi năm trước, nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã viết về Hỷ Khương: "Ngai vàng chót vót năm đời trước/ Tiếng ngọc bâng khuâng một kiếp này..." (Vũ Hoàng Chương, 1964). Nhờ chân thật, giản dị mà thơ Hỷ Khương dễ truyền cảm, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người. Rồi tên tuổi nhà thơ tan biến. Còn lại những câu thơ cho mọi người, của mọi người. "Quý bạn thường mong tìm gặp bạn/ Thương người nên nguyện sống vì người." Thơ Hỷ Khương vậy đó.

    Nhắc đến Hỷ Khương người ta luôn nhắc đến nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, phụ thân của chị. Thực ra thơ Hỷ Khương vốn có sắc thái riêng, không bị che khuất, không bị ngộp trong bóng cả của nhà thơ Thúc Giạ, dù không thể không ít nhiều bị ảnh hưởng, bới đối với phụ thân, hình như Hỷ Khương vừa là con, vừa là học trò mà cũng lại vừa là bằng hữu, tri tri âm tri kỉ. Chị làm thơ cho cha như cho một người xưa, một "cố nhân": "Sông núi vẫn là sông núi cũ/ Mà người xưa lạc dấu ngàn phương!" (Trở về). Lớn lên trong cái nôi văn học, ngày ngày bên người cha nghe bình thơ, ngâm nga, xướng hoạ, cộng với gen dòng dõi Tùng Tuy (Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường) nên hình như Hỷ Khương không dụng công làm thơ mà những vần điệu cứ đến với chị tự nhiên vậy: "Con đến Già Lam nắng tràn cây cỏ/ Nhớ thương thầy trong tiếng mõ hồi kinh" (Nhớ Thầy Trí Phủ); rồi "Phong thái cao thanh tính tình hoạt bát/ Tài ba lỗi lạc tiếng nổi gần xa..." (Nhớ nhạc sĩ Bửu Lộc) vẫn nghe loáng thoáng tiếng hò trên sóng nước của người cha ngày nào. Cho nên nhớ nghĩ về cha là chị nhớ nghĩ đến nghĩa nặng ân sâu:

    Bốn mươi năm thấm thoát qua mau
    Con nước thời gian biến chuyển màu
    Ngoảnh lại thấy đầu hai thứ tóc
    Nhớ về cha thấm nghĩa ân sâu...
    (Vẫn ngời hương sắc áng thi ca).

    Chị cũng có những vần thơ cảm động về mẹ, người mẹ nay đã ở tuổi gần trăm năm: Mỗi ngày thương mẹ nhiều hơn/ Nghĩ xa xôi nỗi tủi buồn càng sâu (Trái gió trở trời)... Và không thiếu những bài cho anh, cho chị, cho thầy cô, cho bạn bè...


    Những ai quen biết Hỷ Khương đều thấy một điều dễ mến ở chị: gặp chị ai cũng vui. Nhà thơ sống như đã nghĩ, đã nói: Còn gặp nhau thì hãy cứ vui...; Còn gặp nhau thì hãy cứ say/ Say tình sau nghĩa bấy lâu nay/ Say thơ say nhạc say bè bạn/ Quên cả không gian lẫn tháng ngày... (Còn gặp nhau).

    Những nhóm bạn bè có tuổi, từ bốn phương trời nay có dịp gặp lại nhau, ôm nhau mừng mừng tủi tủi, khi có người chợt kêu lên: Còn gặp nhau... thì đã nghe người kia kêu tiếp: Thì hãy cứ vui...

    Rồi không nói ra, mà hình như cùng ngẫm ngợi: Lợi danh như bóng mây chìm nổi/ Chỉ có tình thương để lại đời, như câu thơ của Hỷ Khương được khắc trên đá trong một của hàng Thư pháp tại Hội hoa xuân.

    Hẹn thư sau. Thân mến.


    [FONT=Arial, Helvetica, sans-serif](Nguồn: Đỗ Hồng Ngọc. 2005. Thư gởi người bận rộn. TP. HCM: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, tr. 29-32.)[/FONT]
     
  6. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Thơ tại sao mà làm ra?

    Gần 40 năm trước, anh bạn tôi, một nhà thơ đã có nhiều thơ đăng báo, có lần gửi thơ mình đến một vài tờ báo có tiếng là đang "làm mới thơ" thì đều bị từ chối không đăng. Một hôm, anh hí hửng khoe: "Rồi, họ đăng thơ moa rồi". "Thiệt hả? Sao họ chịu đăng?" - Tôi hỏi. Anh cười: "Có gì đâu, moa thấy bài thơ hay mà họ không chịu đăng, tức quá, cắt ra từng mảnh, bỏ vào cái nón nỉ, xóc xóc mấy cái, lượm ra, ghép lại, thành một bài thơ kỳ dị, ký cái tên lạ hoắc, gửi, họ đăng ngay. Có lẽ toà soạn đọc thấy lạ, không hiểu gì cả nên đăng."

    Vài năm trước, Phan Triều Hải, một nhà văn trẻ dự hội thảo văn học ở Iowa (Mỹ) ghi nhận có những bài thơ như sau:
    a
    ab
    abc
    abcd
    ...
    và cứ như thế ghép đủ 26 chữ cái.

    Dĩ nhiên, loại thơ này không để ngâm, không để đọc, mà chỉ để nhìn. Cũng có thể coi là một thứ thơ "vô ngôn", mang tính triết lý. Rồi cũng có loại thơ sử dụng vi tính, lập trình sẵn để đảo câu đảo chữ rất "công nghiệp", chẳng khác gì 30 năm trước anh bạn tôi cắt nhỏ bài thơ rồi xóc xóc trong cái nón nỉ một cách thủ công.

    Trong một Tạp chí thơ thấy có những bài thơ không có một chữ nào cả mà toàn là ký hiệu như ký hiệu giao thông, với các đường vẽ ngoằn ngoèo dẫn ta đi từ nơi này sang nơi khác rất bí hiểm. Dĩ nhiên, thơ này cũng để nhìn, để suy ngẫm chớ không để đọc hay ngâm nga. Gần đây có phong trào thơ vắt dòng:
    ...
    hơi bị phiền
    nhiễu sáo ngữ trên tức tưởi và


    ước
    lòng sẽ đỏ hỏn cốt chuyện cắn
    đắn
    ...
    (LHL)
    đọc lên chỉ nghe ấm ách! Nhưng đây có thể cũng là "ý đồ" của nhà thơ chăng?

    Cũng thấy giới thiệu một thứ thơ được gọi là thơ "tương tác": trong câu thơ có những gạch dọc (/) để người đọc tuỳ nghi đảo chữ, sắp chữ, đọc ngược xuôi theo ý mình. Một bài thơ như vậy sẽ trở thành vô số bài. Một nhà phê bình đã nhận xét khá lý thú bằng cách cho một thí dụ với hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương:
    Em ơi lửa tắt bình khô rượu
    Đời vắng em rồi say với ai!
    Có thể đọc theo lối "tương tác" là:
    Bình rượu
    Khô
    Em ơi
    Lửa tắt
    Vắng em
    Say với ai
    Rồi đời!
    Ngàn năm trước, trong "Bài tựa tập truyện Kinh Thi", Chu Hy (1130-1200) viết: "Có người hỏi rằng: Thơ tại sao mà làm ra? Ta giả nhời rằng: Người ta đẻ ra mà tỉnh, là tính Giời cho nguyên như thế; cảm vật ở ngoài mà mới động, thời ấy mới là sự muốn của tính. Đã có muốn thời phải có nghĩ; đã có nghĩ phải có nói; đã có nói thời những cái ý nhị không nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than, tự nhiên tất phải có những giọng điệu cung bực, như không thôi đi được. Ấy thế mà sinh ra có thơ". (Kinh Thi, Tản Đà dịch).

    Thơ là nỗi lòng, là tiếng lòng, trong lúc "ngậm ngùi ngợi than" đã tự nhiên tạo ra "những giọng điệu cung bậc". Nên trong thơ có nhạc, có tứ, có từ. Điều quan trọng hơn có lẽ thứ tiếng lòng đó tự chảy ra, ứa ra, tràn ra "như không thôi đi được", cho nên ắt nó phải rất chân thật, không thể màu mè, hình thức. Nhiều khi bỗng thèm nghe một câu đơn giản:
    Thò tay ngắt một cọng ngò
    Thương anh đứt ruột giả đò ngó lơ...
    Hẹn thư sau. Thân mến.

    [FONT=Arial, Helvetica, sans-serif](Nguồn: Đỗ Hồng Ngọc. 2005. Thư gởi người bận rộn. TP. HCM: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, tr. 33-36.)[/FONT]
     
    2 people like this.
  7. eagle1154

    eagle1154 Ong tìm mật

    :sodach:loạt bài này hấp dẫn wa', mỗi ngày đọc 1 bài rất hay
    đề nghị lão Đại cho lên thêm gấp kẻo lâu ngày nguội mất
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/01/2009
  8. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Mỗi lần anh phải ngồi đọc sách gõ lại, phải quỡn quỡn tí mới mần được. Chú em cứ thong thả hen... ;)
     
  9. eagle1154

    eagle1154 Ong tìm mật

    Cám ơn ASIMO

    haha bác đúng là người bận rộn thật rồi, thôi thì trong khi chờ đợi search tới search lui em cũng tìm đc 1 ít như thế này, thay mặt bác em xin post lên 1 ít để mọi người cũng thưởng lãm vậy:
    Mới chế tạo được người máy Asimo, con ngươì đã mừng húm, tự hào đã tạo ra được một người máy thông minh nhất thế giới, mang đi trình diễn khắp nơi: nào đến Thái Lan bắt tay Thủ tướng, rồi đến Úc, Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines, Ấn độ, Mỹ, Canada và bây giờ là… Việt Nam. Không chừng sắp tơí có thể còn đến Hỏa tinh nữa! Mừng húm cũng phải vì phải mất hơn 14 năm, cải tiến qua nhiều thế hệ, đến nay loài người mới có được Asimo - có nghĩa là nguyên thủy… Asimo, người máy nguyên thủy thông minh nhất thế giới này trang phục như một nhà du hành vũ trụ, đi những bước đi tự nhiên kèm tiếng vo vo của các bánh răng cưa, biết bước chéo, nhảy múa, leo cầu thang, đứng một chân… gọi là “bước đi đa dạng”; Asimo còn biết chào, biết nói ( biết nói cả tiếng Việt ), biết xưng tên “Tôi là Asimo”, biết bye bye và biết cả…khóc cười, tức giận, mừng vui, ngạc nhiên, khoái trá…! Asimo có con mắt màu mini-cam, có bàn tay…5 ngón, nặng 52 ký và cao 1,2m, đủ để với tới công tắc đèn, khoá cửa, lau chùi bàn ghế…
    Mới chế tạo được Asimo mà con người đã mừng húm đến vậy, tưởng tượng khi Thượng đế tạo ra con người…nguyên thủy thứ thiệt, Ngài đã mừng húm đến cỡ nào! Con người nguyên thủy cao lớn, vạm vỡ, đẹp…trai hơn Asimo, làn da tươi mát, mềm mại, co giãn, mắt sáng rực, tai thính, mũi phập phồng, răng trắng nhỡn, ngực nở nang, rắn rõi không thua anh Vọi, bụng thon nhỏ với những cơ bắp cuồn cuộn không thua…Lý Đức; leo trèo, nhảy nhót, lăng ba vi bộ hơn hẳn Đoàn Dự... Về ngôn ngữ, về cảm xúc, về trí thông minh…đều tuyệt vời, “đa dạng” hơn hẳn Asimo. Thế nhưng hình như Thượng đế không mừng mấy chút, trái lại Ngài lo nhiều hơn. Chuyện phải lo đầu tiên là phải kiếm ngay cho chàng một người bạn…gái (Asimo không rõ giới tính, trông hùng dũng giống trai, mà tiếng nói thanh thót như gái, thân hình lại giống trẻ con, có vẻ còn thiếu thiếu một thứ gì!). Nghe nói lúc tạo người bạn gái cho người nguyên thuỷ, Thượng đế mới giật mình thấy thiếu…nguyên liệu, bèn lấy một chút mặt trời nóng bỏng, một chút mặt trăng dịu mát, một chút tinh tú nhấp nhánh… rồi một chút sông ngòi quanh co, một chút biển cả bát ngát, rồi hoa thơm cỏ lạ, trái ngọt cây lành, sắc màu đủ điệu…để tạo ra nàng. Mới có ba ngày, chàng đã giận dỗi, đem nàng trả lại cho Thượng đế. Ngài mỉm cười không nói năng chi. Ba ngày sau, chàng lại hớt hơ hớt hãi tìm tới, van nài cho nhận lại người bạn kỳ diệu mà kỳ quặc đó. Thượng đế lại mỉm cười, vui vẻ ban cho. Hình như Ngài lo nhiều hơn mừng, chưa hề nói đó là loài sinh vật thông minh nhất trên cõi đời, cũng chẳng hề có ý định đưa đi trình diễn ở hành tinh này hay hành tinh khác. Trái lại, hình như ngài còn ân cần dặn dò không được nghe những lời dụ dỗ, không được ăn trái cấm… Kết quả là nó ăn ngay trái cấm, nghe ngay lờì dụ dỗ và nhờ đó…mà bây giờ mới nào sinh sản vô tính, nhân giống đơn dòng và …Asimo! Điều tệ hại có lẽ là nó không hề biết công ơn của Thượng đế, không hề biết trân trọng chính bản thân mình, những kỳ diệu, những phép lạ ngay trong bản thân mình mà cứ mày mò tìm kiếm đâu đâu. Có lẽ vì thế Ngài cho nó có khả năng chế tạo… người máy, để biết thế nào là những khó khăn trong từng chi tiết nhỏ. Một cái nhướng mắt, một cái nhếch môi đâu phải dễ dàng. Chỉ mỗi nụ cười đã có hằng trăm thứ (gọi là cười… đa dạng), chỉ mỗi bước đi, cả trăm điệu (bước đi đa dạng…) và còn hằng triệu triệu những đa dạng trong cảm xúc, trong suy tư không sao nói hết. Hỉ nộ ái ố, thất tình lục dục, tham sân si… đủ cả. Asimo còn phải nạp năng lượng phức tạp chớ con người biết tự tạo năng lượng từ thức ăn, hơi thở, từ các bộ máy hô hấp, tiêu hoá, tuần hoàn gắn sẵn bên trong, tự nạp năng lượng năm bảy chục năm xài vẫn còn tốt!…
    Nghe nói người máy được cho thuê làm nhiệm vụ lễ tân giá rất cao mà chỉ cần con số lẻ đó thôi, ta có thể kiếm vài người…mẫu, cao ráo, xinh đẹp, dịu dàng, tươi mát, biết nheo mắt, mỉm cười, biết mặc thời trang đủ loại, biết múa hát, đàn ca, biết giận hờn đủ kiểu, dĩ nhiên là có thể nói nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Việt để làm lễ tân.
    Một anh bạn nói nhờ Asimo, nghĩ lại thấy cũng được an ủi phần nào: anh cao hơn 1,6m, nặng 60 kg, biết tắt mở đèn, TV, tủ lạnh, quạt máy, biết khoá cửa, rửa chén, ủi đồ, lau bàn ghế, còn biết đọc báo, biết cười khóc, giận hờn, cãi nhau… ; bước đi đa dạng mà không bị kêu vo vo, chỉ có lúc ngủ kêu khò khò tí chút...
    Tóm lại, cám ơn Asimo. Nhờ Asimo mà ta sực nhớ những Asimos -số nhiều- tuyệt vời ở quanh mình, và cũng nhờ Asimo mà ta nhận ra Asimota- chính ta- cũng là cả một sự kỳ diệu Thượng đế đã trao tặng mà nhiều khi ta chẳng hay! Cám ơn Asimo. Hẹn thư sau. Thân mến.
    BS Đỗ Hồng Ngọc
    [FONT=Arial, Helvetica, sans-serif][/FONT]
     
    2 people like this.

Chia sẻ trang này