Tổng quan về huyện Đơn Dương

Thảo luận trong 'TƯ LIỆU ĐƠN DƯƠNG' bắt đầu bởi tandai, 12/08/2008.

  1. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Nằm về phía đông nam thành phố Đà Lạt, huyện Đơn Dương, bắc giáp huyện Lạc Dương, đông và đông nam giáp tỉnh Ninh Thuận, tây giáp huyện Đức Trọng, có diện tích tự nhiên 611,6 km².

    Năm 1899, vùng đất Đơn Dương thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng.

    Năm 1905, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ, vùng đất Đơn Dương ngày nay thuộc huyện Tân Khai, đạo Ninh Thuận.

    Năm 1920, cùng với việc tái lập tỉnh Đồng Nai Thượng, quận Dran - Fyan được thành lập. Ranh giới của quận lúc bấy giờ rất rộng, phía đông và nam giáp với Ninh Thuận, Bình Thuận, phía tây kéo dài đến Đại Ninh, phía bắc giáp Darlac (gồm đất đai các huyện Đơn Dương, Lạc Dương, Đức Trọng, Lâm Hà ngày nay). Năm 1956, quận Dran - Fyan có 274 làng.

    Theo Sắc lệnh số 126-NV ngày 19-5-1958, chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Tuyên Đức, chia Dran thành 3 quận: Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương. Quận Đơn Dương trước năm 1975 có các xã: Xuân Thọ, Xuân Trường, Lạc Nghiệp, Lạc Xuân, Lạc Lâm, Thạnh Mỹ, Loan, Tà Năng, Linh Gia, Tu Tra.

    Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, sau nhiều lần thiết lập lại hệ thống hành chính, vùng đất Bồng Lai, Bắc Hội, xã Loan, xã Tà Năng được giao về huyện Đức Trọng; các xã Xuân Trường, Xuân Thọ được giao về thành phố Đà Lạt. Tháng 4 năm 1977, huyện lỵ Đơn Dương chuyển từ Lạc Nghiệp về Thạnh Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự chỉ đạo và phát triển.

    Trải qua nhiều biến đổi, hiện nay*, huyện Đơn Dương có 2 thị trấn: Thạnh Mỹ, Dran và 8 xã: Lạc Xuân, Lạc Lâm, Ka Đô, Ka Đơn, Tu Tra, Quảng Lập, Pró, Đạ Ròn.

    *​

    Dòng sông chính của huyện Đơn Dương là sông Đa Nhim, phát nguyên từ phía bắc núi Gia Rích (1.923m) ở huyện Lạc Dương, gần ranh giới 3 tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận, Lâm Đồng. Sông chảy qua các huyện Đơn Dương, Đức Trọng và đổ vào sông Đa Dâng gần thác Pông Gua (Pongour).

    Tại thị trấn Dran, từ năm 1961, một đập nước được xây dựng chặn dòng sông Đa Nhim và Krông Klet lại, tạo thành hồ chứa nước cung cấp nước cho nhà máy thuỷ điện Đa Nhim (công suất 160.000kW) và điều tiết lũ.

    Dọc hai bên bờ sông Đa Nhim là một vùng trồng cây lương thực, thực phẩm; hàng chục nghìn ha lần lượt được khai phá và phát triển cùng với sự hình thành của huyện. Hồ Đa Nhim là nơi có thể xây dựng thành khu du lịch đẹp thu hút du khách. Thác Thiên Thai, Hòa Bình còn mang những nét đẹp hoang sơ của núi rừng.

    Địa hình Đơn Dương có thể chia thành 3 dạng chính:

    1. Địa hình núi cao bao gồm khối núi chạy dài theo hướng đông bắc - tây nam có độ cao phổ biến 1.000 - 1.500m, độ dốc trên 15°, đại bộ phận diện tích còn rừng thông che phủ.

    Huyện Đơn Dương có các đỉnh núi cao: Yang Kuet (1.431m) ở phía đông bắc Đơn Dương; Kanan (1.485m) ở phía đông hồ Đa Nhim; Ya Bonnonh (1.650m) ở trên ranh giới giữa huyện Đơn Dương và tỉnh Ninh Thuận; Srêla (1.486m) ở phía bắc thị trấn Thạnh Mỹ; Parglo (1.395,5m) ở xã Pró.

    2. Dạng hình đồi thoải lượn sóng có xen kẽ núi thấp là dạng chuyển tiếp giữa địa hình núi cao với địa hình thung lũng, độ dốc phổ biến 3-15°, phân bố ở phía nam sông Đa Nhim. Một số diện tích là đất bazan (Ka Đô, Châu Sơn).

    3. Dạng địa hình thung lũng sông suối miền núi, độ dốc 0-15°. Đây là loại đất phù sa, dốc tụ, phân bố dọc theo sông Đa Nhim và các dòng suối, là vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu của huyện.

    Đơn Dương có nhiệt độ trung bình hàng năm 24°C, ít bị ảnh hưởng gió bão, mỗi năm chia làm 2 mùa: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Thời tiết tương đối ôn hòa, đất đai thích hợp cho việc trồng cây lương thực, cây ăn trái, cây công nghiệp.

    *
    Từ cuối thế kỷ XIX trở về trước, đồng bào các dân tộc thiểu số đã cư trú trên mảnh đất này. Đơn Dương có nhiều dân tộc, nhưng đông nhất là Cơ Ho, Mạ, Chu Ru, Xtiêng, Rắc Lây,...

    Trong quá trình hình thành và phát triển, dân số ở huyện Đơn Dương ngày càng đông thêm nhưng biến động qua mỗi thời kỳ. Đầu thế kỷ XX, cư dân còn thưa thớt và chỉ có đồng bào dân tộc sống rải rác tại các vùng sâu. Từ năm 1917, thực dân Pháp đến mở đồn điền, nhà máy, mộ phu ở nhiều miền đất nước, đông nhất là người các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận. Khi đường sá, đồn điền đã xây dựng xong, người Kinhï ở lại khai khẩn đất và lập làng sinh sống. Đến năm 1945, dân số quận Dran có khoảng 20.000 người, tập trung đông nhất ở thị trấn Dran. Năm 1946, khi Pháp tái chiếm Dran, phần đông dân cư ở đây tản cư xuống Phan Rang, Phan Thiết, mỗi làng chỉ còn lại vài chục người. Cùng với sự phát triển kinh tế, số người ở lại Đơn Dương tăng dần. Trước năm 1975, dân số đã lên 47.717 người và theo số liệu thống kê năm 1999, toàn huyện có 80.976 người, trong đó 24.846 người là đồng bào các dân tộc; mật độ dân số: 133 người/km².

    Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1975, nhân dân các dân tộc huyện Đơn Dương đã không ngừng đoàn kết, kiên cường đấu tranh chống ngoại xâm.

    Ngày 22-8-1945: Khởi nghĩa giành chính quyền ở Dran.

    Ngày 28-1-1946: Lực lượng vũ trang quận Dran hành quân xuống chiến khu Trà Co ở Ninh Thuận.

    Năm 1946: Thành lập Uỷ ban kháng chiến lâm thời.

    Tháng 4-1946 - 1-1947: Thực dân Pháp khủng bố, bắt giam hàng trăm đảng viên và cơ sở cách mạng; xử bắn, bí mật thủ tiêu nhiều cán bộ, cơ sở quần chúng.

    Tháng 8-1949: Đại đội Như Hổ hoạt động ở Pró, M’Lọn.

    Tháng 6-1952: Thành lập đội 122.

    Tháng 8-1954: Phong trào đấu tranh “Bảo vệ hòa bình”.

    Năm 1957: Cơ sở cách mạng bắt đầu hoạt động lại.

    Ngày 16-5-1961: Tấn công quận lỵ Đơn Dương.

    Năm 1964: Nối thông đường dây Đức Trọng - Bắc Hội - Ka Đô.

    Ngày 10-6-1966: Thành lập Ban cán sự Đảng Đơn Dương.

    Tháng 10-1967: Thành lập Ban cán sự Đảng K67 (Tây Nam Đơn Dương).

    Ngày 31-1-1968 (Mồng 1 Tết Mậu thân): Giải phóng ấp Quảng Hiệp và nhiều nơi khác ở Ka Đô; thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời xã Ka Đô; tiếp tế lượng thực, thực phẩm cho tiểu đoàn 186 của Quân khu VI nhận nhiệm vụ tăng cường cho chiến trường Đà Lạt.

    Ngày 16-1-1969: Tấn công phân chi khu Thạnh Mỹ.

    Tháng 3-1969: Tấn công trận địa pháo Đa Nhim.

    Tháng 5.1969: Tấn công phân chi khu Thạnh Mỹ lần thứ hai.

    Ngày 6-6-1969: Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh Tuyên Đức và huyện Đơn Dương được thành lập trên địa bàn huyện Đơn Dương.

    Đầu năm 1970: Sát nhập Ban cán sự K67 vào Huyện ủy Đơn Dương.

    Ngày 31-1-1970: Tấn công chi khu, chi cảnh sát quận Đơn Dương và trụ sở Hội đồng xã Lạc Nghiệp.

    Năm 1970: Hoạt động Xuân Hè (TK); Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đơn Dương lần thứ nhất.

    27-1-1973: Đồng loạt vũ trang tuyên truyền, cắm cờ giành đất, rải truyền đơn ở Phú Thuận, Lạc Xuân, Ka Đô.

    Cuối năm 1974: Thành lập Ban cán sự Đảng khu Tam Giác trực thuộc Thị ủy Đà Lạt.

    Ngày 2-4-1975: Huyện Đơn Dương hoàn toàn được giải phóng.

    *​

    Rừng và đất rừng Đơn Dương là một thế mạnh với nhiều chủng loại gỗ, trong đó chủ yếu là thông và các lâm sản như mây, tre, nứa dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Rừng còn cung cấp một số cây dược liệu quý như: trầm hương, hà thủ ô,…

    Kiến tạo thiên nhiên đã hình thành ở Đơn Dương những cánh đồng không rộng nhưng bằng phẳng tại thị trấn Dran, Ka Đô, Ka Đơn, Thạnh Mỹ, Pró, Tu Tra,… từ lâu được nhân dân khai phá trồng cây lương thực, thực phẩm.

    Theo số liệu thống kê năm 1999, trong tổng số 12.538ha đất nông nghiệp, cây lúa chiếm 3.966ha.

    Trước năm 1975, đồng bào các dân tộc thiểu số trồng lúa nước và lúa rẫy mỗi năm một vụ vào mùa mưa theo phương pháp cổ sơ. Hiện nay nhờ xây dựng các đập nước, diện tích lúa nướùc trồng hai vụ đã tăng lên.

    Ngô thường trồng trên đất thổ, đất dốc trong mùa mưa với diện tích 2.253ha, sản lượng: 8.813 tấn. Hai giống ngô chính là giống ngô lai (dùng trong chăn nuôi) và giống địa phương (dùng để ăn).

    Rau chiếm diện tích 7.300ha, được tiêu thụ phần lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Trung. Ba vùng chuyên canh rau là xã Lạc Lâm, xã Lạc Xuân và thị trấn Dran.

    Cây ăn trái đặc sản ở Đơn Dương là hồng (Diospyros kaki L.) trồng nhiều nhất ở ba thôn: Phú Thuận, Lâm Tuyền, Hòa Bình thuộc thị trấn Dran. Ngoài hồng, bà con nông dân còn trồng chuối, bơ, mít,…

    Ngoài các cây lương thực, rau và cây ăn trái kể trên, nông dân trong huyện còn trồng: sắn, khoai lang, mía, cà phê, thuốc lá, dâu tằm,… và chăn nuôi: heo, gà, trâu, bò,…

    Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, huyện có một số cơ sở sản xuất gạch ngói, xay xát lúa ngô, ga ra sửa chữa các loại xe cơ giới, chế biến đồ gỗ gia dụng, 2 cơ sở sản xuất nước chấm ở Lạc Xuân và một số lò đường thủ công.

    Ở vị trí cửa ngõ dẫn lên Đà Lạt, Đơn Dương có hệ thống giao thông thuận lợi, giao lưu giữa các vùng trong tỉnh và tỉnh bạn.

    Quốc lộ 20 nối thành phố Đà Lạt với Dran, qua đèo Ngoạn Mục xuống Phan Rang, đi các tỉnh miền Trung. Quốc lộ 27 chạy dọc phía bắc sông Đa Nhim, qua địa bàn huyện, có chiều dài 26km từ Dran đến Phi Nôm, tiếp giáp quốc lộ 20, nối các tỉnh phía nam. Một con đường tráng nhựa mới, đường 412, xây dựng năm 1999, chạy dọc phía nam sông Đa Nhim từ thị trấn Dran đến xã Ka Đô.

    Ngoài quốc lộ, nhiều con đường xuyên qua buôn làng, núi cao, tạo thành mạng lưới giao thông gắn liền địa bàn huyện với các huyện và tỉnh bạn.

    Phương tiện vận tải chủ yếu trong huyện là ô tô. Bến xe ở thị trấn Dran có các tuyến đường đến: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Phan Rang, Đức Trọng, Di Linh, Bảo Lộc. Ngoài ra, còn có tuyến đường sắt Đà Lạt - Tháp Chàm chạy ngang qua thị trấn Dran nhưng đã ngừng hoạt động từ năm 1977.

    Huyện Đơn Dương có một trung tâm văn hoá ở thị trấn Thạnh Mỹ.
    Do địa hình đồi núi, huyện Đơn Dương có Đài Phát thanh - Truyền hình Đơn Dương đặt ở Ka Đô và Trạm thu phát lại chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam đặt ở Dran.

    Ngoài các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, bán công, huyện Đơn Dương có 3 trường phổ thông trung học* ở Thạnh Mỹ và Dran, 1 trường nội trú dành cho học sinh dân tộc ít người.

    Huyện Đơn Dương có 1 bệnh viện ở thị trấn Thạnh Mỹ; 2 phân viện ở thị trấn Dran, Ka Đơn và các trạm xá xã.

    Đơn Dương được thiên nhiên ưu đãi, có nhiều thế mạnh về nông nghiệp và lâm nghiệp, có khả năng phát triển du lịch và dịch vụ, là nơi hội tụ của các đồng bào dân tộc trên nhiều miền đất nước về đây sinh sống, đang từng bước được khai thác tiềm năng phục vụ đời sống nhân dân, vươn lên làm giàu cho quê hương, đất nước.

    Huyện Đơn Dương có 2 đơn vị được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang” là Công an huyện và xã Quảng Lập.


    Nguồn: Địa chí Lâm Đồng, http://www.lamdong.gov.vn/diachi/ [tham khảo ngày 21/06/2006]

    *: thông tin tính đến năm 2001 (DaNhim.net)
     
    1 person likes this.
  2. Pie

    Pie New Member

    chài sinh ra và lớn lên ở DD mà mình chẳng bít cái gì hết, tks ông a nhìu nhìu lần nữa
     
  3. Quanviet

    Quanviet Tình nguyện viên QTX

    Theo e được nge thì gần đây có 1 số thay đổi mong bác nào "thông thái" post cho mọi người biết được ko ạ ! ở thành phố lâu lâu mới về quê nên mù thông tin quá ,thanks !
     
    1 person likes this.
  4. quang dao

    quang dao New Member

    Nge noj don duong chuan bj sap nhap vao thanh pho da lat ruj
     
  5. quang dao

    quang dao New Member

    Thon lam tuyen co 1 su kjen rat wan trong do la vjec o thon nay co 1 nguoj phan dong pj cong an phu yen bat ruj.Noj dep nhu don duong laj co nhung ke xau nhu the nay pun wa dj
     
  6. quang dao

    quang dao New Member

    Ko bjt toj khj nao ve laj don duong day ta nho no wa dj huhuhu
     
  7. huuphong246

    huuphong246 New Member


    Sao bạn biết người ta xấu. bạn đã tìm hiểu ngọn nguồn chưa?
     

Chia sẻ trang này