Tù Phú Quốc: những cuộc vượt ngục có 102

Thảo luận trong 'TRI THỨC BỐN PHƯƠNG' bắt đầu bởi luckylac, 20/05/2009.

  1. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Chính xác hơn thì những câu chuyện dưới đây được sưu tầm trên trang web báo Công an Nhân dân với tựa đầy đủ là: "Những cuộc vượt ngục có một không hai trên thế giới của những người cộng sản ở nhà tù Phú Quốc". Tập truyện này được báo Công an Nhân dân trích lại từ tác phẩm "Nhà lao Cây Dưa" của nhà văn Chu Lai.


    "Nhà lao Cây Dừa" tập trung những câu chuyện có thật về những người con dũng cảm tuyệt vời của dân tộc, ngay cả khi bị kẻ thù hành hạ tàn bạo dã man nhất vẫn không mờ tinh thần yêu nước, tình yêu dân tộc và khát khao tự do cháy bỏng. Trong sách có thuật lại rất chi tiết những cuộc vượt ngục có một không hai trên thế giới, kỳ thú đến kỳ diệu của những người cộng sản ở nhà lao Cây Dừa để thoát khỏi sự kìm kẹp của kẻ thù, trở về với đội ngũ...

    LTS: Tập ký sự lịch sử "Nhà lao Cây Dừa" của nhà văn Chu Lai viết về kỳ tích đấu tranh anh hùng và bi tráng của những người chiến sĩ cách mạng tại một nhà tù tàn bạo vào bậc nhất thế giới dưới chế độ Mỹ - ngụy thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thời đó, nhà lao Cây Dừa trên đảo Phú Quốc là nơi đã tập trung những trò hành hạ con người một cách dã man đê tiện nhất với 40 nghìn tù binh Cộng sản. Nhưng cũng tại đó đã sáng bật lên khí phách anh hùng và lòng trung thành vô biên của những người chiến sĩ cách mạng, không bao giờ biết cúi đầu trước bạo lực phi nghĩa của kẻ thù.

    "Nhà lao Cây Dừa" tập trung những câu chuyện có thật về những người con dũng cảm tuyệt vời của dân tộc, ngay cả khi bị kẻ thù hành hạ tàn bạo dã man nhất vẫn không mờ tinh thần yêu nước, tình yêu dân tộc và khát khao tự do cháy bỏng. Trong sách có thuật lại rất chi tiết những cuộc vượt ngục có một không hai trên thế giới, kỳ thú đến kỳ diệu của những người cộng sản ở nhà lao Cây Dừa để thoát khỏi sự kìm kẹp của kẻ thù, trở về với đội ngũ. Dưới đây sẽ lần lượt trích giới thiệu về các cuộc vượt ngục đó...
     
    5 people like this.
  2. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Kỳ 1: Cuộc vượt ngục qua 17 lớp hàng rào thép gai đầy mìn

    Trong kỳ này sẽ là câu chuyện của ông Hai Hội, tức Cáp Đình Hội, một chiến sĩ cách mạng từng là cựu tù nhân trong nhà lao Cây Dừa.

    Vận động không được ai, cuối cùng Tổ vượt ngục chúng tôi chỉ còn có ba. Cả ba đều là dân đặc công trinh sát, cũng như trong tù thời gian này phần đông là lính trinh sát đặc công. Ba mống hội ý đi hội ý lại, mà đâu có dễ ngồi lại với nhau bàn bạc, ngày hay đêm (ban đêm trong phòng cũng để đèn sáng trưng) chúng đều kiểm soát gắt gao, chỉ cần có dấu hiệu lạ, ngồi tụm năm tụm ba là xộc vào liền, mới quyết định được ngày ra là ngày 5, tức là ngày sinh của tôi (mùng 5 tháng 5).

    Trước hết chúng tôi bỏ 10 đêm thay nhau không ngủ, nằm áp sát tai xuống đất lắng nghe bước chân đi lại, tiếng xe lăn bánh ở ngoài xa để nắm thật chắc quy luật hoạt động của chúng. Ban ngày thì giả đò mang tú lơ khơ ra sát chân rào chơi, vừa chơi vừa dõi mắt quan sát ra khắp xung quanh. Cuối cùng có thể kết luận được cái khoảng chập choạng tối là giờ chúng lơ là canh gác nhất. (Nhất chạng vạng - nhì rạng đông). Hồi ở ngoài thường đánh đồn vào hai khoảng thời gian này thì ở đây cũng vậy.

    Còn hai ngày nữa, ba chúng tôi đồng loạt khai bệnh đau bỏ cơm. Lúc này tình hình dân sinh dân chủ do ta đấu tranh không khoan nhượng nên đã được cải thiện chút ít. Không ăn cơm chúng cấp sữa, loại sữa đã để quá hạn trong kho quân tiếp vụ hàng mấy năm, mở ra toàn một chất lỏng đỏ quạch. Mỗi ngày ba người được nửa lon, hai ngày một lon. Ba người một lon cũng tạm đủ để làm lương khô lúc đi đường. Đường đi bao xa, lâu hay mau, phải vượt qua những trở ngại khủng khiếp nào, chúng tôi chưa biết nhưng chắc chắn rằng ở ngoài có lực lượng cách mạng. Bên trại giam Ba Toản còn có đầu đạn rớt vô để nhận biết, trại giam bên này lại dựa vô mấy tay quân cảnh đào ngũ cũng bị chúng bắt đi bửa củi chung. Họ cho biết ở ngoài có cách mạng. "Vậy, cứ nhằm hướng pháo nổ mà đi!". Tôi nhủ thầm.

    Trước khi đi một ngày, tôi chính thức báo cáo với đồng chí Hồng, Bí thư Đảng ủy là công việc chuẩn bị đã xong xuôi. Đồng chí Bí thư dặn:

    - Ra được người nào có lợi cho cách mạng người đó, các anh cứ yên tâm ra đi, việc ở lại nếu có gì đã có chúng tôi. Còn một hộp thuốc hồi dương tôi giấu được, mấy anh đem đi đường mà dùng, cần lắm đó.

    Bịn rịn tôi mời anh cùng ra. Anh lắc đầu, cười buồn:

    - Muốn lắm! Chỉ cần ra khỏi hàng rào gai, ngắm trời ngắm đất cho đã một lần dù chết cũng cam. Nhưng tôi yếu quá rồi không khéo lại làm phiền, làm lỡ việc mấy anh. Vả lại trong này còn có nhiều việc, tôi chưa thể vắng mặt được.

    Tôi khóc và nắm chặt bàn tay trơ xương của anh. Những năm tháng lao tù, những cán bộ đảng như anh thầm lặng nhận tất cả nặng nhọc về mình, nhường thuận lợi, nhường cả khát vọng tự do cho đồng đội. Rất tiếc tôi lại không nhớ được tên họ thật của đồng chí này.

    Ngoài lon sữa, chúng tôi còn được anh em lén đưa cho một lon nữa và hơn một ký cơm cháy không biết anh em phơi khô để dành từ bao giờ.

    Buổi tối đi thì buổi trưa có người báo cho chúng tôi biết trong phòng có kẻ đang theo dõi, hãy cẩn thận. Tôi biết thằng đó. Mấy bữa nay thấy chúng tôi thường đi ra đi vô quan sát hiện trường, nó đã để ý nhưng không bằng chứng gì nên không ra mặt. Anh Bảy Minh là người tuy ở tù nhưng còn có sức vóc do sáng nào cũng tập thể dục đến vã mồ hôi nhận trách nhiệm dằn mặt nó. Đến giờ ăn cơm, thừa khi nhộn nhạo, anh xáp tới siết chặt cổ tay hắn, nói:

    - Thằng khốn nạn! Mày đang theo dõi cái gì? Mày có muốn đi theo số kiếp trâu chó của thằng bạn mày mấy tháng trước không thì nói! Tao tạm tha, từ nay tao còn thấy cặp mắt của mày láo liên nữa là cho rớt ra ngoài đó nghe không?

    Thằng này tái mặt. Nó còn lạ gì tính khí Bảy Minh, người đã từng dùng tay móc đui mắt kẻ chiêu hồi dạo nọ. Nó lỉnh đi nằm bẹp một xó và từ giờ đó không dám ngóc mặt lên nhìn ai nữa. Chắc đồng chí hỏi tại sao không trừ luôn nó đi để tránh hậu họa cho người sau? Khó đó. Một là nó chưa hội đủ bằng chứng, hai là gây án mạng lúc này rất bất lợi, địch sẽ phong tỏa không lọt ra được.

    Chúng tôi không đi đúng ngày 5 mà chuyển sang ngày 6 để đón mưa. Đêm ấy mưa thật. Mưa rả rích không nặng hạt nhưng cũng đủ để nhòa đất trời rất lợi cho việc bò rào.

    Hành trang đi đường của chúng tôi ngoài cơm khô, lon sữa ra, còn có thêm một chiếc võng tự khâu bao bố đựng cá xin được ở nhà bếp đề phòng khi phải cáng nhau và con dao găm khá bén làm bằng cán ca USA để chống trả với cá sấu nếu đúng xung quanh đây đầy cá sấu như bọn lính hù dọa. Phòng giam ban đêm đóng cửa, cửa cũng bằng thiếc, đóng sơ sài không có chốt khóa, có thể khéo léo nâng cậy lắc mình qua được, nhưng chúng tôi không chọn lối ra ấy để tránh con mắt đã quen hau háu nhìn vào cánh cửa của bọn gác. Chúng tôi ra bằng kẽ hở của chân tường. Kẽ hở này hẹp, chỉ rộng hơn một gang tay, người bình thường khó qua được nhưng thân xác tù tong teo chẳng khác chi con nhái, hẹp vậy chứ hẹp nữa vẫn có thể dán mình trườn qua không tiếng động, miễn là cái sọ dừa đừng kênh kênh quá!

    Cẩn thận lôi cái ca đựng đầy sình đã chuẩn bị sẵn ra khỏi hốc phản, chúng tôi thay nhau trát kín vô người làm một động tác hóa trang đặc công thông thường rồi bắt đầu khởi sự.

    Khoảnh sân này rộng chừng hai chục thước, trắng lốp không một ngọn cỏ nếu trời trăng thì chịu nhưng may mắn là trời đang mưa, ánh sáng lòa nhòa, bọn gác cũng đang bận chụp áo chụp mũ tránh nước mưa tạt tứ bề nên bằng những động tác đã được tập luyện kỹ dưới gầm phản mấy ngày vừa rồi, chúng tôi vượt qua không mấy khó khăn.

    Bây giờ mới là công việc chính, vượt qua 17 lớp hàng rào thép gai đầy mìn trái, chó, ngỗng bao bọc phân khu và khu. Hết hàng rào của khu, còn phải lọt qua bảy lớp rào bọc quanh toàn bộ nhà tù nữa. Liệu có xong được trong đêm không hay là sáng ra còn nằm ló đuôi giữa đống bùng nhùng kẽm gai để lính nó nhặt về đóng đinh vô sọ?

    Đã đánh đặc công trên chục trận nhưng chưa có cứ điểm nào lại có hệ thống rào như thế, nếu là mục tiêu tác chiến, chúng tôi phải bỏ ra bốn đến năm đêm mới chui qua hết. Chỉ có cái khác là trước đây bò vô, bây giờ bò ra. Bò ra có cái dễ và có cái khó của nó, tức là người lính vượt ngục phải thực hiện một mục tiêu ngược.

    Mìn trái đối với chúng tôi không ngại. Rà phá quen tay lắm rồi, dây nhợ kiểu nào cũng phát hiện ra. Nhưng còn chó, ngỗng thì thật là nan giải. Theo lẽ, muốn khắc phục ba cái con vật mắc dịch này phải vô hiệu hóa được chúng bằng cách "miễn dịch". Tức là ngày ngày phải xé quần xé áo của mình ra từng miếng nhỏ quẳng cho chúng nhai hít hoặc ráng tạo điều kiện gần gũi, kè kè da thịt vô mõm chúng để dần dần tạo cái thế quen hơi bén mùi cho khi ra. (Sau này tụi chỉ huy hình như biết thóp, chúng cũng đột ngột đổi chó như đổi quân cảnh để chống lại khả năng "miễn dịch" của ta). Đằng này bọn tôi vội quá, không kịp huấn luyện chúng vì để chậm hơn, theo một nguồn tin của anh em quân cảnh giác ngộ cho hay, chúng sẽ lôi phân nửa số tù sang khu biệt giam khác. Trường hợp Ba Toản còn căng hơn: Nếu chỉ ra chậm một ngày thôi là cả cái tổ "cứng đầu" ấy sẽ bị gọi đi thủ tiêu.

    Cái có thể yên tâm là cả tháng nay áo xống của ba thằng đã làm bộ vô tình quẳng đại lên hàng rào phơi trước mũi chúng cả ngày lẫn đêm rồi.

    Đúng như dự đoán, sau khi gỡ được mấy trái mìn, kể cả thứ mìn râu nằm sâu trong đất chỉ ngóc lên cái râu bằng que tăm lên trên mà khẽ ấn xuống chút xíu, nó sẽ nhảy dựng lên nổ ngang mặt, có thể cho đi đoong cả một con bò khổng lồ; chúng tôi bò tới lằn ranh súc vật. Tôi bò đầu. Tư Phước bò sau, Bảy Minh bò sau nữa. Khi nào mệt, căng thẳng quá sẽ dùng chân bấm báo hiệu hãy chuyển chỗ thay cho nhau. Có lẽ do mưa rét nên đêm ấy chó, ngỗng cũng co cụm lại, lia rách mắt cũng chỉ thấy những vật thể đen sì không ngọ nguậy. Ổn rồi! Tôi nhoai người lên trước... Bỗng tôi lạnh toát khắp người. Có một cái gì đó nhờn nhờn ram ráp đụng chạm vô be sườn tôi, chả lẽ chúng lại mới sinh cái trò thả rắn? Tôi nằm cứng người và nhịn thở. Cái nhờn nhờn chuyển lên lưng... lên vai... rồi lên cổ. Nhột không chịu rồi. Cùng lúc, một mùi hơi ẩm xì xộc vào mũi... Ôi chao! Một cái đầu chó bự bằng cái đầu sư tử đang há hoắc cái miệng nóng giẫy vô mặt tôi. Mày cắn, tao sẽ cắn lại rồi muốn sao thì sao!

    Tôi nghĩ thế và ráng im thở thêm chút nữa. Thời gian trôi qua lâu bằng cả cuộc đời. Lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là thời gian ngưng đọng đặc quẹo như mấy cha nhà văn hay nói. Thật hên! Có lẽ con béc giê giống Anh đã nhận ra một hơi hướng quen thuộc nghĩ rằng tôi là một xác thịt đã thối rữa nên sau khi liếm quấy lên mặt tôi một cái, nó khìn khịt bỏ đi. Dáng đi của nó đủng đỉnh giá lạnh như thần chết...

    (Còn tiếp)​
     
    5 people like this.
  3. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Kỳ 1: Cuộc vượt ngục qua 17 lớp hàng rào thép gai đầy mìn (tiếp theo)

    ...Cứ thế, gần sáng, chúng tôi đã đến lớp rào cuối cùng, sau khi đã gỡ thêm được non chục trái nữa. Trên đường ra chỉ có một sự cố nhỏ. Tự nhiên cả nhà tù mất điện vào lúc hai giờ. Có lẽ điện chập mạch do mưa hoặc nhà đèn hư áptômát? Vậy là chúng bắn. Khắp nơi đều bắn. Đạn chì xé nát màn đêm. Vừa bắn chúng vừa la hú: "Ê! Thằng nào kia?... Đứng dậy đi tao nhìn thấy rồi. Ê! Thằng nào kia nữa? Thảy tạc đạn cho hết mấy thằng tù đang bò lóp ngóp kia, anh em!". Chà! Cái trò con nít đụng ngoài rồi, kệ cha nó, việc mình bò cứ bò. Đèn tắt, chúng huy động các loại xe ra mặt lộ giữa rồ máy rọi đèn pha sáng quắc vô các lớp rào, cả khu tù. Chúng thi nhau ném trái sáng và trực thăng cấp cánh thả hỏa chân rơi nhòe nhoẹt trên đầu nữa. Vui như ngày hội hoa đăng. Cứ lẩn mẩn nghĩ giờ này ngoài ba đứa tôi ra, liệu còn có tốp vượt ngục nào khác cũng đang nép mình nằm dưới ánh sáng đủ màu này không?

    Tình trạng hỗn loạn đó kéo dài được nửa giờ đồng hồ thì đèn đóm lại bật sáng. Chúng tôi tiếp tục bò, đoạn nào lom khom, hoặc ngồi xổm, đi được thì đi. Để ra được đến ngoài, chúng tôi phải vận động không ngừng, mất tầm tám tiếng. Tám tiếng ấy chúng tôi đã trườn qua đội hình hai khu và bốn phân khu tức là trườn khéo qua khoảng tám mươi cái nhà giam anh em mình.

    Ngày hôm đó chúng tôi ém tại một lùm cây rậm rạp có sình lầy ở dưới. Cách nhà tù chừng hai cây số. Hai cây số là đủ để chúng không dám mò ra đi lùng sục vì sợ trái gài của du kích, và chúng tôi cũng không thể đi xa hơn vì trời sáng mất rồi.

    Một ngày ngồi thu lu, thần kinh căng thẳng, gạo sữa mỗi người chỉ dám nhấm nháp một chút nhưng thấy thấm thía vô cùng cái nghĩa của tự do.

    Sẫm tối, chúng tôi nhằm hướng Bắc đi tới. Tại sao lại hướng Bắc? Cả hòn đảo này, chỉ có hướng Bắc là lắm núi nhiều rừng, mà ở đâu có nhiều núi rừng là ở đó có căn cứ cách mạng. Tôi suy đoán áng chừng vậy và kiên quyết cắt đi.

    Đi được một lúc thì đụng một cửa biển. Nếu không nhầm thì đây là cửa Cầu Sấu như tụi lính kháo. Men theo bờ lại sợ vướng đồn, cả bọn quyết định đi tắt qua cửa biển bằng cách bẻ củi khô ghép thành bè. Chà! Bè mới trôi được một đoạn thì đã nghe thấy tiếng sấu đập đuôi ùm ùm khắp xung quanh. Kệ nó, miễn là không rớt khỏi bè và bè không bị chúng phá tan. Mà dù có tan cũng không sao. Mỗi người đã có một con dao găm inox sẵn sàng ăn thua đủ với chúng, sá gì. Chết ư! Cũng được thôi, kinh khủng thật nhưng còn ngàn vạn lần hơn cái chết tức tưởi trong tù. Sự vững tin pha một chút bất cần này đã khiến chúng tôi tạo được sự tỉnh táo cần thiết để tiếp tục vục tay xuống khoát nước thay mái chèo. Tiếng sấu quẫy thưa vắng dần. Kỳ thực đó là tiếng sóng vỗ vào hốc đá chứ không phải là tiếng sấu đập đuôi, bởi lâu nay nghe bọn lính hù dọa mà chúng tôi tưởng tượng ra sự rùng rợn như vậy.

    Đi được chừng hai cây số thì ai nấy đã thấm mệt, nhất là khát, chịu không nổi. Tư Phước bụm tay uống mấy vốc nước mặn. Lạ chưa? Không rõ bụng dạ trong tù ăn uống tồi tệ thế nào mà mới chạm nước biển một chút là ổng ỉa chảy liền. Chảy dữ dội, chỉ thoáng chốc toàn thân đã rũ ra như tàu lá héo, tôi vội khui hộp thuốc hồi dương của đồng chí cán bộ đảng đưa cho nhét vô miệng Tư Phước! Mấy phút sau cơn đi chảy cầm được.

    Thêm một tiếng nữa thì đụng bờ. Trèo qua ghềnh đá vô sâu trong rừng thấy có lán trại, cọc cành đã mục, mừng lắm. Vậy dứt khoát có người của ta. Bọn lính không có lối ở lán trại kiểu này. Phấn khởi xóa dấu chân hăm hở đi tiếp. Vẫn men theo bờ đi về hướng Bắc. Đi lò dò từng đoạn để lắng nghe động tĩnh. Cái sợ nhất lúc này là đâm đầu vô lính. Sáng ra vội tạt vô rừng. Gặp mạch nước trong, cả ba chúi đầu chúi cổ làm một bụng no tròn. Thỏa thê rồi, trèo lên chạc cây ngắm biển, ngắm mặt trời lên mà ngây ngất cả người. Mang tiếng là tù đảo nhưng ra đảo đã lâu rồi, có bao giờ được nhìn cảnh biển, cảnh trời hùng vĩ dường này!

    Rừng rậm kín bưng. Yên bụng lăn ra ngủ. Một thức hai ngủ. Chưa bao giờ có một giấc ngủ giữa rừng ngon lành đến thế. Trưa tỉnh dậy, bụng đói cồn cào. Lại lấy cơm khô nhấm nháp vài miếng rồi uống đầy nước cho cơm trương lên. Một cân cơm ấy mỗi người chỉ cần táp mấy miếng là sạch trơn nhưng đâu dám. Phía trước còn bao nhiêu ngày lặn lội nữa, ai mà hay. Thấy cây trám, mừng quá, nhảy lên trèo hái đầy một chiếc quần lót để làm lương khô dự trữ. Riêng hộp sữa dở, chỉ dám cho Tư Phước mút hai mút rồi đóng lại. Nhìn cái miệng cậu ấy chóp chép còn thèm mà thương quá!

    Gần tối, phát hiện thấy một chiếc thuyền cây từ ngoài khơi đang đi vô. Tưởng là thuyền đánh cá của dân, tính khoát tay gọi vô xin đồ ăn và hỏi thăm, quá giang nhưng thoáng thấy màu áo lính lại thụt vô. Đây là con tàu tuần tiễu biết đâu đang đi đón lõng mấy thằng tù vượt? Đi tiếp. Trong ráng chiều chợt phát hiện ra ba chú sứa đang bị sóng triều dềnh lên dềnh xuống ven bờ cát. Đến gần nhìn kỹ. Một màu đỏ một màu tím và một màu trắng to bằng bàn tay. Mới cầm vô cái thân mềm mềm âm ấm của nó, nước miếng đã muốn nhễu ra. Thèm quá! Vội bứt lá rừng, loại lá sắc cạnh cắt nhỏ từng chú ra thành những miếng hình quân cờ béo ngậy, sau đó ba anh em lấy nhúm muối đã xin được trong bếp tù ra bóp bóp, nắn nắn và ăn, ăn lấy ăn để... Chưa hết một miếng, cả ba đã nhổ ra phì phì. Nhổ hết rồi mà lưỡi vẫn ngứa cong lên. Bảy Minh hụp miệng xuống biển súc sùng sục, vẫn ngứa. Tư Phước thò tay vô miệng muốn móc họng ra... Đến là khổ!

    Sau khi biết loại sứa xinh xẻo bằng bàn tay là sứa lửa, ăn vô có khi chết. Vậy mà không hiểu sao chúng tôi chỉ bị ngứa lưỡi thôi. Trời còn chạng vạng, tranh thủ đi tới nữa. Gặp con suối nhỏ. Mò bì bõm ngồi lâu không bắt được con cá nào. Tôi chộp được mấy con tôm bằng ngón tay út chia đều ra. Con tôm còn đang nhảy nhảy, bẻ qua râu càng rồi nhét tọp vô miệng, đệm thêm hạt muối, nhai bã ra mới nuốt. Chao! Ngọt như sâm, thịt tôm chảy tới đâu, thân thể giãn ra tới đó.

    Lại thay nhau đi trước đi sau. Đến lượt Bảy Minh dẫn đầu. Tội nghiệp, một mắt sáng, một mắt vảy cá không nhìn thấy gì nhưng cái dáng vẫn đi phăng phăng. Trời sụp tối, chợt nghe tiếng con nít khóc ở đâu đây. Cả ba lặng người, không đi nổi nữa chân tay muốn nhũn ra. Bao nhiêu năm chinh chiến, lại mấy năm tù đày toàn máu me, chết chóc. Tiếng con nít khóc đêm nay kéo ngược đầu óc chúng tôi về những mơ ước bình dị nhỏ nhoi đến trào nước mắt. Trái tim người lính chiến trận tù đày tưởng chừng đã chai lì mốc mác vậy mà ở một góc sâu xa nào đó vẫn còn nhiều yếu mềm đến thế.


    Tư Phước được đào tạo chính quy, vốn là tay có đầu óc tham mưu khá nhạy nên phán đoán đây không phải là ấp chiến lược mà là tiếng con nít khóc trong đồn. Hỏi tại sao? Anh trả lời: "Chả có ấp chiến lược nào chúng lại khờ khạo lôi ra tận mép biển để Việt cộng dễ đột nhập như thế này".

    Nghe phải, chúng tôi xắn vô rừng chừng một cây số rồi lại nhằm hướng Bắc mà đi. Bỗng rầm một cái thấy Bảy Minh ngã sấp ngã ngửa trong đám dây nhợ lằng nhằng. Chạy lại gỡ ra được, bấm nhau lui lại một đoạn mới thấy hú hồn hú vía. Mắt vảy cá không nhìn rõ, anh chàng đã dẫn tổ nhào vô trúng hàng rào đồn địch (sau này biết là đồn Hàm Ninh). Lại lùi thêm mấy trăm mét nữa. Xung quanh rừng là kín bưng, hết thấy đường bèn bảo nhau mắc võng ngủ đại rồi tính. Mệt rã rời, đói nữa nhưng không ai ngủ được. Nằm nghe muỗi vo ve và tiếng radio văng vẳng mà biết rằng trời chưa đến nỗi thật khuya và kẻ thù đang ở sát gần nhưng mệt quá, thây kệ. Gần sáng thiếp đi được một lúc, lúc choàng mắt tỉnh dậy thấy lô cốt địch xù xì đập ngay vào mắt. Không còn kịp định hướng nữa, ai nấy quáng quàng cuốn một cục võng rồi tông qua con suối sau lưng rộng chừng mười lăm mét (sau này mới rõ đó là suối Hàm Ninh). Hết suối, chạm một cục rừng nữa. Ló ra bìa rừng nhác thấy một trảng cỏ tranh xanh tốt và ở giữa có một con lộ đất đỏ khá rộng chạy qua. Lúc ấy ai đâu biết đó chính là con lộ chạy ngang đảo nối Hàm Ninh với Dương Đông dài mười bốn cây số.

    Đang phân vân chợt phát hiện ra một đám tám cô gái mặc quần áo đủ màu đạp xe phấp phới đi về phía đông đường, chắc là đi chợ thị trấn, vì dáng đạp xe hối hả lắm, lại thêm túi xách, quang sọt buộc lỉnh kỉnh đầy ghi đông. Đang trong tình huống lưỡng nan nguy hiểm mà cả ba người cứ đứng ngẩn ra. Lâu lắm rồi mới lại được nhìn thấy bóng dáng đàn bà con gái rõ như thế này. Và tưởng không bao giờ còn được nhìn thấy nữa! Năm đó tất cả còn trẻ, tôi chưa đến bốn mươi tuổi, còn hai người kia mới độ tuổi trong ngoài ba mươi. Những cái bóng dáng thanh bình ấy thật trái ngược với những tháng ngày u ám vô vọng của chúng tôi vừa trải qua. Bảy Minh là một con người vui tính và hay mơ mộng nói thì thầm:

    - Trời ơi! Chỉ cần một lần được nhìn thấy những hình ảnh kia là có chết cũng nhắm được mắt.

    Nhưng cả con mắt vảy cá đó và những con mắt của chúng tôi đều phải mở hết cỡ để chạy ù qua lộ. Mới qua khỏi được chục mét, hai cái bóng trắng đàn ông ở đâu đột ngột ngóc lên trước mặt khiến cả ba vội nằm bẹp xuống. Thấy hay không thấy? Chúng tôi đưa mắt hỏi nhau nhưng không ai trả lời được cả. Cuối cùng vẫn Tư Phước nhận định: "Nếu họ vẫn đi bình thường thì tức là chưa thấy gì hết!". Tôi trèo lên cây dõi nhìn theo, hai cái bóng trăng trắng vẫn chuyển động bình thường về phía rừng chứ không phải về phía bốt. Chắc họ đi bẻ củi về chụm, vậy thôi.

    Khoảng giờ ngọ, đảo mắt khắp nơi thấy vắng tanh, đồng không mông quạnh, chúng tôi mò ra tận mặt lộ. Một tấm bảng gỗ cắm bên lề đường có ghi: "Hỡi anh em binh sĩ! Đi càn quét chớ phá hoa màu của nhân dân". Chữ của ta, của anh em cách mạng rồi. Mừng quá phán đoán thêm: Mặt bảng có chữ dứt khoát là hướng địch, lưng bảng phải là phía ta. Chúng tôi nhằm hướng lưng bảng gỗ cắt đường đi tiếp. Được một đoạn, thụt giò xuống công sự mới đào, đất còn đỏ tươi, càng chắc trong bụng. Chỉ có công sự của ta mới đào kiểu có nắp thế này. Công sự của địch thường đào lỗ tròn, nông hơn chỉ dùng để tránh đạn chứ khỏi cần phải sụt lút đầu người để tránh được cả bom lẫn pháo như ta. Nhưng cũng chính trong cái công sự xâm xấp nước ấy, anh chàng Tư Phước lại giẫm phải một con rùa đang nằm thoi thóp. Vốn dân tộc Tày nhưng Tư Phước lại duy tâm, tỏ ra lo lắng: "Gặp rắn thì đi, gặp quy (rùa) thì dừng! Sao bây giờ!". Bảy Minh quạu: "Rắn, quy gì cũng đi ráo, miễn là đừng gặp địch".

    Đi tiếp một đoạn nữa thấy hai bóng người một già một trẻ đi qua. Ông già cầm hai trái tạc đạn M26, người trẻ đeo cây súng K44. Chút xíu nữa tôi đứng thẳng người dậy vì cây K44 đó. Loại súng cổ lỗ sĩ này địch làm gì có, chỉ tồn tại trong hàng ngũ của ta. Nhưng câu nói: "Con vừa được phong thiếu úy, chú Năm" của người trẻ tuổi khiến tôi sựng lại. Trong cách mạng chỉ gọi trung đội bậc phó, trung đội bậc trưởng chớ ai kêu úy úy, tá tá? Không ổn rồi! Coi chừng bọn biệt kích giả dạng. Giả dạng nên mới mang súng đàng mình. Chúng tôi khe khẽ lộn trở lại trảng ranh nằm chờ. Chừng mặt trời sắp lặn, tám cô gái đi chợ về, tiếng nói cười râm ran cả khoảng không gian tĩnh mịch. Tư Phước bàn phải bắt được một cô để khai thác. Vốn là sĩ quan quân báo kiêm đặc công, Tư Phước rất thành thạo trong việc bắt "một cái lưỡi" như thế này nhưng hiềm một nỗi cả tám cô đều đi dính nhau, không thể tóm riêng một cô được. Cả ba tên tù vượt ngục nhìn họ qua dần mà tiếc rẻ! Đúng lúc đó Bảy Minh phát hiện ra bóng hai cô nữa đang lặc lè đạp đằng sau cả đám một quãng xa. Đây thuộc tốp khác và chắc là một tốp can đảm vì trời nhiều mây ai dám đạp xe lẻ loi trên con lộ giáp ranh ta địch thế này.

    Chúng tôi ra tay… Chớp mắt, hai cô đã ngồi gọn trong lùm cây rậm, bạc mắt nhìn chúng tôi, toàn thân run như thằn lằn đứt đuôi, một trong hai cô nước mắt nước mũi giàn giụa. Chắc hai cô nghĩ rằng mình đang rơi vô tay ma quỷ chớ không phải người. Tôi không xưng mình là tù vượt ngục, lấy giọng thật ôn tồn hỏi:

    - Xin hai cô đừng sợ. Chúng tôi là những người dân đi làm ăn từ phương xa tới, đến đây bị lạc đường, lại hết lương ăn, muốn hỏi đâu là vùng tự do, đâu là vùng bất hợp pháp để còn biết lối mà đi tiếp, không lại rầy rà chuyện tên bay đạn lạc của hai bên.

    Cô lớn tuổi hơn nhìn chúng tôi nghi ngờ. Nhưng cô vẫn run rẩy chỉ tay về phía trước:

    - Vùng giải phóng của mấy ông Việt cộng ở đây kêu là vùng bất hợp pháp. Vùng mấy ông quốc gia kêu là vùng tự do. Vùng này nè!

    Chúng tôi cám ơn, xin lỗi một chập, lấy xe ra trả rồi bấm nhau đi ngược lại phía "vùng tự do" như cô gái nói. Nếu hai cô này đi luôn thì có nghĩa là thông tin đó đúng. Còn ngược lại, hai cô rắn độc này có thể bươn bả kêu lính ra bắt lắm chớ. Chờ hoài, chờ mãi… Quả nhiên một lát sau hai cô đi trở lại với hai người đàn ông, nhưng hai người này không phải là lính mà lại chính là ông già và anh con trai đeo K44 hồi trưa. Chúng tôi nín thở. Một cô giơ tay chỉ. Ông già đi về phía chỗ chúng tôi đang núp, tay lăm lăm lựu đạn. Chúng tôi vẫn im lặng. Tới gần, ông già đưa tay lên miệng khẽ gọi:

    - Cách mạng đây!... Cách mạng đây! Anh em tù binh vượt ngục hãy ra đi, hãy ra đi!

    Tiếng gọi da diết dữ lắm. Tôi nói nhỏ: "Cứ ra, nhưng cảnh giác áp sát từng người, nếu cần ta thẳng tay!". Và thứ tự từng người rời khỏi bụi rậm.

    Ông già nắm chặt tay chúng tôi và mời thuốc Báttô. Tôi không cầm, mặc dù thèm lắm! Ông già cười thật hiền:

    - Mấy chú nghi Báttô của lính hả? Không có sao, thuốc gì thì thuốc, miễn là có cái hút là được. Nói giỡn chơi, thuốc đây của chú em này phục kích lính đêm qua lấy được.

    Ông giơ tay vỗ vai người trai trẻ. Anh này cười rất tươi. Hai cô gái cũng cười. Tới lúc ấy chúng tôi mới vội ngồi thụp xuống, vì chợt nhớ ra trên thân thể cóc cáy của mình hầu như không còn miếng vải nào cho ra vải để che thân. Hai cô gái kín đáo quay đi, nước mắt rơm rớm. Chà! Điếu thuốc Báttô nặng vậy mà tôi chỉ lõm má rít bốn hơn là hết. Thở khói ra thấy đất trời đảo điên, tan loãng. Lúc đó tôi muốn nhại lại câu của Bảy Minh: "Lúc này chết được rồi!".

    Đêm hôm đó sau ba ngày lặn lội, chúng tôi thả mình trên nệm lá ngủ một giấc ngon lành. Ba ngày… nếu biết đường, chúng tôi chỉ phải đi ba tiếng. Cũng còn là may, sau này đám Ba Toản, đám Hai Hồng phải lang thang hết mười ngày, mười lăm ngày mới đụng căn cứ.

    Sáng hôm sau ông Nam Tiên (chính là ông già cầm tạc đạn) cán bộ xã Hàm Ninh cùng anh con trai đưa chúng tôi về căn cứ. Tò mò hỏi cớ sao anh lại kêu được phong thiếu úy? Anh cười, vẫn nét cười thiệt là tươi: "Kêu cho vui. Vì trung đội trưởng phiên ra cũng bằng thiếu úy - Vậy thôi".

    Chưa về đến căn cứ, chúng tôi gặp đồng chí chính trị viên huyện đội dẫn một tiểu đội đi nghiên cứu chiến trường. Đó là anh Năm Sĩ. Gặp chúng tôi anh mừng lắm. Chúng tôi cũng rất mừng và hiểu rằng mình sẽ lại được bước vào cuộc chiến đấu mới của cách mạng.
     
    5 people like this.
  4. dieulinh

    dieulinh Ong lang thang

    Hay, chú Lắc. post tiếp đi nào. M mất cả buổi với loạt bài này..hihi...
     
    2 people like this.
  5. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Cảm ơn chị, thực tình là lúc đầu em chỉ tính post từng bài ngắn thôi, sợ dài quá dễ gây cảm giác không muốn đọc. Nhưng post thiếu thì lại sợ người đọc sốt ruột nên em chia ra mỗi "cuộc vượt ngục" thành 2 bài, bên cạnh đó là tô màu mấy đoạn đối thoại để "có thêm hiệu ứng". Không để chị và mọi người đợi lâu, xin mời xem tiếp kỳ 2 nhé.
     
    2 people like this.
  6. Vô Danh

    Vô Danh Ong vò vẽ

    hehe. Chú Luck ơi, đọc xong tới đâu thì tớ :thank: tới đó nhé...tới giờ mới đọc xong cái bài đầu......:cool:
     
    2 people like this.
  7. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Kỳ 2: Huyền thoại đào hầm

    Không chỉ ở lớp trẻ mà ngay trong lớp người già đã gánh trên vai hai, ba cuộc kháng chiến cũng không nhiều người biết về nhà tù Phú Quốc và nếu có một ai đó hiểu rằng hòn đảo ấy ngày trước là một hòn đảo tù đau thương thì thường họ chỉ nhắc tới huyền thoại đào hầm…

    Huyền thoại đào hầm… Vậy là đã hàng chục ngày trôi qua, tôi cũng đã gặp gỡ hàng chục người, hàng chục các nhân chứng sống nhưng một nhân chứng thật sự đào hầm lại tìm chưa ra! Tôi thoáng hốt hoảng! Chui rào, bò rào, giật súng để thoát ngục, tôi đã nghe kỹ càng rồi và sẽ còn tiếp tục được nghe nữa, nhưng con người khoét hầm bằng xương bằng thịt tìm không thấy thì coi như cái thực thể nhà lao Cây Dừa mới dựng được khung mà chưa có lục phủ ngũ tạng. Coi như rỗng tuềnh rỗng toàng… Nửa tháng trời rong ruổi, tôi đã may mắn gặp được những nhân chứng sống mà nếu thiếu họ, cái thực thể Cây Dừa cũng không còn là Cây Dừa.

    Một trong những người đó là anh Sơn, đang giảng dạy triết học tại Đại học Cần Thơ, anh là một người cao, gầy, giọng nói quê hương Bắc nhỏ nhẹ và khúc chiết như chính cái nghề nghiệp của anh đòi hỏi vậy. Anh tiếp tôi trong căn hộ mới xây xinh xắn của vợ chồng anh. Có lẽ nếu gọi là dấu vết của những năm tháng tù đày thì ở anh, người ta sẽ tìm thấy ít nhất.

    Anh không nói về anh mà nói về một vụ đi củi giật súng chạy thoát đến hơn bốn mươi người mà anh có biết và chứng kiến. Đó là chuyến ra hùng mạnh đông đảo nhất của lịch sử vượt ngục tù Phú Quốc…

    Sơn bị giam trong khu tù hạ sĩ quan. Khu này hầu hết là tù binh bị bắt giam đợt Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Là khu giam thường nên cuộc sống lao tù không quá nghẹt thở như các khu biệt giam, khu cấm cố nhưng cũng đủ kinh rợn để mỗi người tù đều tự hình thành một ý chí thoát ngục xung lửa ở trong đầu.

    Trước khi ra được, Sơn có những kỷ niệm đau đáu không thể quên trong những ngày đen tối đó.

    - Cứ mang cái kiểu bóp cò thẳng cẳng của người lính vào tù là không ổn, anh ạ! - Anh nói - Mình là kẻ bị trói, nó là kẻ cầm roi, mình thiếu mềm dẻo một chút là trả giá đủ. Tôi nhớ dạo ấy, để giết thì giờ và để tự trấn an đầu óc cho đừng nghĩ ngợi ngang ngửa, tôi có rủ vài ba anh em nữa mượn sách tiếng Nga của bọn quân cảnh để tự ôn, tự học.

    Thằng Trung úy Hiền, dân Công giáo toàn tòng nổi tiếng độc địa, thấy vậy, hắn cười khẩy, lấy chân đá đá vào cuốn sách trên tay tôi hất hàm hỏi:

    - Mày là dân Bắc kỳ hả? Dân Bắc kỳ ham học dữ heng! Vậy nghe tao hỏi, trả lời cho thật đấy: Bắc hay Nam sống khá?

    Tôi biết thằng ác ôn này tính chuyện gây sự, nhưng không thể nói chiều lòng nó, bèn giả bộ ngơ ngác để có thì giờ suy nghĩ.

    [I]- Ông trung úy định hỏi cái gì khá? Văn hóa hay thể thao?

    - Sống khá! Cuộc sống của bọn mày khá hay thua cuộc sống trong này? Tức là cái miếng ăn nhét vào mồm ấy. Nói cho thật.


    - Cuộc sống trong này tôi đâu có biết mà so sánh, ông trung úy! Vào Nam một cái là ở rừng luôn, ngày hay đêm, năm này qua năm khác, đều đập mặt vào rừng, có được xuống dân ngày nào đâu mà biết.

    - Được! Mày trả lời khá - Hắn cười gằn - Nghe hỏi nữa đây: Mày có chấp nhận cuộc tiến công Mậu Thân tầm bậy tầm bạ của Đảng chúng mày là thất bại không?


    - Mậu Thân ấy à? Vâng! Thắng hay bại, lính tráng cùng đinh nằm xó rừng như tôi đâu có rõ. Chuyện ấy là chuyện trên cao, bí hiểm lắm! Tôi cũng như ông, cứ trên ra lệnh tiến là tiến, ra lệnh lùi là lùi, nhiều khi có rõ tại sao tiến, tại sao lùi đâu. Theo binh pháp thì chắc ông trung úy biết, tôi không dám qua mặt, nhiều khi tiến chưa phải là thắng và lùi cũng không có nghĩa là thua.

    - Thôi! - Nó quát - Cộng sản lắm cái mồm! Vào đây rồi mà còn lắm cái mồm! Bọn bây khổ vì lắm lý luận, lắm chữ nghĩa quá đấy. Bao nhiêu tuổi?


    - Cái gì tuổi cơ?

    - Tôi hỏi anh bao nhiêu tuổi?

    Thấy hắn đã xuống giọng "anh - tôi" đàng hoàng, tôi khoái trong bụng nhưng ráng không xuống thế:

    - Tôi sinh ra cùng với đất nước!

    - Nói cái gì?


    - Chắc ở ngoài đó ông trung úy không còn lạ gì ông bà cha mẹ chúng ta đều thoát khỏi kiếp nô lệ tủi nhục vào năm 1945. Tôi sinh năm đó.

    - Đ. mẹ! Thằng này chơi xỏ quốc gia. Lính đâu! Cho nó ra sân giẫm gai mây, coi nó còn già hàm được không?[/I]

    Tôi bị giẫm gai mây thật! Mây rút ở rừng về, chúng đem phơi nắng cho quắt lại, riêng những cái gai dài bằng nửa đốt ngón tay lại dẻo quánh, chỏng lên trời. Chúng rải cả bụi, cả bó như thế bắt tôi giẫm chân trần lên. Giẫm bước thứ hai, mắt đổ hoa cà hoa cải, giẫm bước thứ ba, thần kinh mụ mị không còn biết mình đang giẫm lên cái gì nữa. Giẫm bước thứ tư… người mạnh nhất cũng té giụi. Té giụi, chúng đánh giữa mặt bắt cho đứng lên. Bước tránh chỗ không có gai chúng nện thanh củi dài cả mét vào xương ống chân bẻ lái cho trúng gai. Đó là một hình phạt ghê rợn mà ai đã trải qua một lần đều tởn đến già, chưa nói hai gan bàn chân sưng tấy cả tháng sau mới nhúc nhích được.

    Tối đó trở về nhà giam, lên cơn sốt nóng rên hừ hừ, đồng chí bí thư chi bộ đến bên, vừa rửa nước muối vào chỗ đau cho tôi vừa rủ rỉ:

    - Đừng làm thế, Sơn ơi! Chúng nó ăn lương chỉ để tìm mọi cách hành hạ mình. Đánh bạc thua cũng kéo mình ra nện. Đi uống rượu về cũng ghé phòng giam quật chơi vài hèo. Thậm chí vào ấp ghẹo gái không xong, trở về cũng trút hận vào đầu tù. Khiêu khích, ăn miếng giả miếng với chúng nó có ích gì, chỉ thiệt thân.

    Ngay lúc đó tôi thấy lời khuyên ấy đúng nhưng càng về sau tôi thấy càng không ổn. Luật tù đày, mình càng xuống nước nó càng làm tàng… Mình gồng lên, dù trước mắt có tổn hại nhưng sau lại thoáng ra. Tuy vậy, qua câu nói của đồng chí bí thư, tôi cũng nghiệm ra một điều: Sự mềm mại khéo léo bao giờ cũng hái lượm được nhiều kết quả hơn sự thô ráp cứng queo.

    Ví dụ, nhân một ngày lễ của ta, ngày Quốc khánh mồng hai tháng chín, tên đại tá chỉ huy trưởng nhà tù đi cùng với tên đại tá cố vấn Mỹ xuống thị sát khu tôi. Thông thường vào những ngày này: Ngày Toàn quốc kháng chiến, Ngày thành lập quân đội, Ngày thành lập Đảng, Ngày sinh của Bác Hồ… chúng thường vô cớ lôi tù ra đánh chết bỏ, chắc với hy vọng rằng làm thế sẽ tiêu hủy được nhuệ khí người tù do ngọn lửa của những ngày lễ ấy hun đúc nên. Và về phía ta, ta cũng thường nhân những ngày trọng đại đó mà mở cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, đòi quyền được đối xử đàng hoàng như những tù binh chiến tranh… cho nên đó là những ngày rất dễ dàng đẫm máu nếu không có sự chỉ đạo kịp thời.

    Hôm ấy cũng vậy. Chắc muốn làm đẹp lòng tên cố vấn Mỹ mày râu nhẵn nhụi có cái cười thật giảo hoạt, tên đại tá Việt Nam bắt cả khu trên năm ngàn tù binh ra sân banh tập hợp. (Nên nhớ, trong tù một số khu có sân đá banh để lòe bịp các đoàn quốc tế, để xin đô la Mỹ nhét vào túi chứ có trái banh nào lăn ở đó đâu. Sân banh trong tâm tư người tù thực chất chỉ là cái pháp trường, cái đấu xảo, cái nghĩa địa đẫm máu và nước mắt). Đối diện với năm ngàn người ốm yếu, rách rưới là một tiểu đoàn quân cảnh súng ống lăm lăm trong tay để sẵn sàng hủy diệt nếu có lệnh của thượng cấp. Hơn một trăm cái xác của khu Tán sinh hoạt diễn ra đầu tháng trước đã là một bài học đắt giá với chúng tôi ở những hoàn cảnh tương tự như thế này. Có một sự chỉ đạo chung mơ hồ từ đâu đó lan ra khắp các hàng tù: "Kiên nhẫn… Hết sức kiên nhẫn và khôn khéo. Bằng giá nào cũng không để rơi vào âm mưu khiêu khích của chúng".

    Thằng đại tá Trần Vĩnh Đắc, con rể của tướng Lê Văn Tỵ, vung vẩy cái cán bịt bạc trong tay, giọng ngọt nhạt:

    - Thưa các chiến hữu! Xin cứ được gọi các bạn bằng hai chữ chiến hữu và xét đến cùng chúng ta đều là người lính, chỉ khác người lính đứng hai đầu chiến tuyến. Nhưng không sao, chiến tranh thua thắng là chuyện thường phải không các bạn?

    Nó mới nói tới đó, chúng tôi đã thấy sôi người lên! Ai bạn bè, chiến hữu gì với nó. Hàng ngàn xác chết chôn ngoài nghĩa địa kia là từ đâu nếu không từ cái miệng dẻo queo và hàm râu con kiến và nụ cười nhã nhặn một cách giảo hoạt của thằng quan thầy nó kia! Nhưng một lực cản vô hình nén đè lồng ngực chúng tôi lại. Thằng này xưa nay có ra mặt đứng trước tù nhân bao giờ. Bữa nay nó xuất hiện thế này chắc không phải là điều bình thường, chúng tôi chợt linh cảm thấy một điều gì đó ghê gớm đang sắp tiến đến.

    - Hôm nay là ngày Quốc khánh của các bạn! Phần nào đó cũng là ngày Quốc khánh của chúng ta, có phải không? (im lặng). Tôi nói thế bởi vì ông Hồ Chí Minh của các bạn xét theo lăng kính lịch sử nào đó cũng là một thứ anh hùng dân tộc, chỉ tiếc sau đó ông đi sai đường. Rất tiếc, theo lẽ ông đã trở thành một thánh nhân của giống nòi này. Nhân đây, xin báo cho các bạn một tin không vui. Bác Hồ của các bạn đang trên giường chết. Ông sẽ chết, như con người ra đời có sinh có tử vậy thôi. Chỉ buồn các bạn đi theo đường lối của ông mà nửa đường đứt gánh. Ông đã đưa tất cả các bạn vô ngõ cụt vô phương.

    Tai ù đi, chúng tôi không còn nghe thấy gì nữa! Nó vừa nói cái gì vậy? Có thật như thế không? Hay lại chỉ là một động tác giả mà chúng tôi nghe đến nhàm tai. Bởi lẽ, thỉnh thoảng bọn giám thị đi qua, lại nói trỏng vào phòng: "Cách mạng chúng mày tới số rồi!... Đại tướng Thanh của chúng mày ngoẻo củ tỏi rồi!... A ha! Hà Nội đã bị san thành bình địa, những thằng tù cuồng tín kia có nghe rõ không?”. Hoặc "Bác Hồ của chúng mày sắp chết rồi!... Chết hồi hôm rồi…". Chúng tôi hơi đâu để ý đến lời khiêu khích gọi đòn của bọn khát máu nên làm thinh mặc dù lần đầu nghe cũng thấy choáng váng. Chúng tôi bảo nhau: "Nó nói vậy là cách mạng đang lên. Nó nói Bác mất tức là Bác đang sống. Nó sợ, nó đang run sợ, đừng chấp. Được cái, nhắc đến Bác, thằng khốn nạn nhất vẫn phải gọi là "Bác" một cách kính nể, có thằng nào dám buông một lời hỗn láo về Ông cụ đâu. Khoái!". Nhưng hôm nay lại do chính thằng này nói ra? Một thằng chỉ huy trưởng có học vấn, lại mang khát vọng một tương lai xán lạn, liệu nó có dám cược cả danh dự của nó lẫn ông bố vợ đại tướng của nó để đổi lấy một trò đùa giỡn chơi có hại đến uy tín này không? Hay là… Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau. Trong hàng đã có những xáo động khiến bọn quân cảnh vội vàng tiến lên một bước dè chừng.

    - Xin chia buồn - cái miệng ngọt nhạt nói tiếp - xin thành thật chia buồn với các chiến hữu phe đối nghịch. Càng đáng chia buồn hơn khi tất cả đều biết rằng bên cạnh cơn hấp hối của ông lãnh tụ cộng sản đó, chính trị ủy của các bạn đang tan rã, rình rập hất đá nhau để giành quyền bá vương. Tin mới nhất, Tướng Giáp đã triệu hồi được hai sư đoàn tinh nhuệ kéo về bao vây Ba Đình, sẵn sàng dùng vũ lực tiếm ngôi.

    Thế này thì khốn nạn thật! Nếu nó dừng lại ở mệnh đề thứ nhất thì đã gây được tác động, nhưng nó lại sa đà vào mệnh đề tiếm ngôi sau đó thì khác gì nhại lại luận điệu của đài BBC mà chúng tôi thường có dịp nghe hồi còn ở ngoài. Thằng con rể dòng dõi này mất tư cách thật rồi.

    - Nhân ngày đáng nhớ này - nó cao giọng - Bộ chỉ huy nhà tù quyết định tăng thêm khẩu phần ăn cho tất cả tù binh 0,1 gram cá mỗi ngày một đầu người.

    Chúng tôi bụm chặt miệng để khỏi cười phá lên. Cả gram cá thối đã phải vứt bỏ, tăng thêm 0,1 gram để làm gì? Thật đốn mạt. Nói đùa, chính câu đểu giả của hắn đã làm năm ngàn con người dịu đi. Thử hình dung xem: Nếu hôm đó chúng tôi biết tin Bác ốm nặng sắp mất thật thì điều gì sẽ xảy ra! Mậu Thân không đâu vào đâu (xin lỗi, lúc ấy tôi nghĩ thế chứ đã được hiểu kỹ tầm quan trọng cũng như ý nghĩa chiến lược của nó đâu) rồi cuộc sống tù đày khổ ải, bây giờ lại Bác mất nữa thì cuộc đời cầm súng vô vọng quá! Vậy còn xá gì nữa mà không xông lên tất cả xé xác bọn ăn thịt người đang hiện diện ở ngay trước mặt kia. Năm ngàn con người có thể sẽ chết hết, nhưng cái nhà tù này cũng chẳng còn gì. Thật phúc cho chúng nó và cũng… còn may cho chúng tôi.

    Nhác thấy câu nói của mình không gây được hiệu quả gì trong đám đông, thậm chí những ánh mắt giễu cợt từ đó bay lên tỏa vào thân hình hắn, lại thêm cái nhún vai không mấy hài lòng của viên cố vấn Mỹ đứng cạnh chẹn ngang lấy họng, tên đại tá bảnh bao và choáng lộn những khuy bấm, khuy cài trên quân phục thoắt nổi giận. Y vẫy tên Trung tá Phước, Trưởng ban Chiến tranh chính trị lại gần, vừa nói cái gì đó vừa xỉa đầu can xuống đám tù đen đặc hết nửa sân banh. Tên Phước gật đầu rồi bật ngón tay. Một tên to con đen đúa như người Nùng bước ra. Tôi nhận ra hắn là Trung úy Long, Giám thị trưởng nổi tiếng về sự tàn bạo và cũng chính vì thói tàn bạo đó mà hắn được vinh thăng từ thiếu úy lên trung úy, từ giám thị thường lên giám thị trưởng nội trong vòng có ba tháng. Thằng này chủ trương lấy đàn áp làm sách lược. "Thằng cứng đánh cho mềm, thằng mềm đánh cho chết, chết rồi cần thiết dựng dậy đánh nữa!". Hắn thường tuyên bố như vậy và nhiều lần ra tay trực tiếp. Nghe đồn hắn học thuật đánh người từ Mỹ về và một khi hắn ra tay thì chẳng mấy người sống sót nổi.

    "Lành đập cho què, què đập cho què luôn!". Hắn cũng lại nói thế và làm đúng như thế. Hắn đập tù ở mọi nơi, ở mọi lúc. Vợ hắn lên thăm, hắn vẫn đập, đập xong ra ngồi thở hồng hộc cho vợ quạt mát rồi trở vào đập nữa. Mẹ hắn lên thăm cũng vậy. Bà mẹ đi dạo, không chịu nổi hành vi của con, đã buông lời khuyên: "Mày làm ác, sau này xuống địa ngục bị bỏ vạc dầu đó con". Nó trả lời: "Trước khi tôi bị bỏ vạc dầu, tôi cho mấy thằng cộng sản cuồng tín này vào dầu trước đã".

    Kềnh kệnh chuyển dịch cái thân xác nặng ít nhất 80 kilô ra trước hàng ngàn người, tiếng nói ồn vang như phát ra từ chum vại, tên trung úy ác ôn gườm gườm:

    - Đ. mẹ! Bây giờ hô nghe bay! Tao hô gì thì bọn bây hô y sì theo đó. Thằng nào không hô bắn bỏ tại trận.

    Phương án này các chi bộ Đảng chúng tôi đã dự kiến nên chẳng lấy gì làm ngạc nhiên. Những ngày đầu, chúng cũng tập hợp bắt tù hô tầm bậy tầm bạ, anh em chưa có kinh nghiệm nên chơi rắn trở lại, rốt cuộc chúng nổ súng xối xả làm thiệt mạng hàng chục người. Đầu óc thân thể chúng tôi căng chằng để chuẩn bị đối phó. Đây thực sự là một cuộc đấu trí mà cái giá phải trả là mạng sống của mình, và toàn bộ nội dung của sự đấu trí đó là cách hô lái để chuyển đổi ý nghĩa vậy thôi.

    - Nước Nam là của người Nam - Nó hét.

    Câu này chuyển đổi không có, chỉ việc đệm chữ "Việt" vào trước chữ Nam cuối cùng là xong, chỉ có điều phải đệm thật nhẹ, đệm bằng hơi gió, đệm như không đệm gì cả mới ổn. Chúng tôi hô:

    - Nước Nam của người Việt Nam. :no1:

    Không rõ có hài lòng hay không, trung úy Long gào tiếp:

    - Quân lực Việt Nam Cộng hòa bất khả chiến bại!

    Câu này rắc rối hơn một tí. Bất khả là không có khả năng. Khả là có, vậy chỉ còn cách hô ghép "bất khả" thật nhanh "bất" hô nhẹ "khả" nhấn mạnh nghe như chỉ có mỗi chữ "khả" thôi. Bởi lẽ hàng ngàn con người hô thì việc còn hay mất, nhẹ hay nặng một chữ thật khó mà phân biệt. Tất nhiên năm ngàn con người không phải người nào cũng hô lái được như thế, nhưng hàng đứng sau chỉ cần ầm ào theo. "Quân lực Việt Nam Cộng hòa… khả chiến bại!". Bọn tôi hô đúng như thế và lần này cũng thoát.

    Câu cuối cùng:

    - Chúng tôi nhất quyết không đi theo Đảng Cộng sản Bắc Việt, câu này tương tự như câu trên, "nuốt" khéo đi chữ "không".

    - Tốt! Thứ tự giải tán!


    Đại loại là như thế anh ạ! Thật ra xét đến cùng là hòa. Nó tưởng mình hô theo nó, mình biết mình hô theo mình. Nó có biết nó thua đâu và nó cũng đâu có hay mình thắng, nếu sau này nó phán đoán ra thì cũng muộn màng rồi, có thằng nào tự tay vả vào mặt mình bao giờ.

    Nhưng nó lại có tác dụng khích lệ tư tưởng và siết chặt đội ngũ tù binh ghê gớm lắm! Năm ngàn con người đều phát ra những lời thề công khai giữa nắng gió, phát ra từ lồng ngực u uẩn của mình kia mà.

    Tuy vậy đêm hôm đó về trại, tất cả chúng tôi đều không ngủ được. Lời thông báo của thằng đại tá Đắc cứ ám ảnh chúng tôi. Cả trại muốn ngồi dậy, muốn hỏi nhau, muốn tìm ở các đồng chí lãnh đạo một lời khuyên, một lời giải đáp nhưng không dám nhúc nhích. Đèn trong phòng sáng choang, chỉ cần ngồi tụm năm tụm ba, rì rầm trò chuyện là bọn quân cảnh ập vào thét lác rồi. Có lẽ đêm ấy tất cả chúng tôi, những người tù ở một hòn đảo xa ngái đều nhớ về Hà Nội, nhớ về Bác. Hình ảnh Bác chưa bao giờ sáng rõ trong trí não đã từng chai lỳ đi vì những trận đánh đập bạo tàn của bọn tôi như đêm nay… Bác Hồ ơi! Bác đừng chết nhé! Bác không thể chết… Cuộc chiến tranh còn đang lâu dài ác liệt, chúng cháu đang khổ cực lắm… Bác đừng bỏ chúng cháu mà đi… Bác Hồ ơi!..

    Trong màn đêm giá lạnh hun hút khí núi tràn về, những người tù không manh quần tấm áo nằm co quắp lấy nhau trên bệ xi măng đã thành tâm nguyện cầu như vậy. Hy vọng như vậy.

    (Còn tiếp)​
     
    3 people like this.
  8. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Kỳ 2: Huyền thoại đào hầm (tiếp theo)

    ...Đó là đêm mồng hai tháng chín năm 1969, bốn mươi ngàn tù binh Phú Quốc đều chẳng ai ngờ rằng, đó chính là đêm Bác vĩnh biệt dân tộc ra đi mãi mãi. Tin này mãi đến tối ngày hôm sau, tối mồng ba, chúng tôi mới biết! Một người lính quân cảnh vốn xưa nay có thiện cảm với trại tù đã chọn đúng phiên gác của mình mở khe khẽ cái đài đeo bên hông làm bộ đi qua đi lại trước cửa tù… "Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội đồng Nhà nước… Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đau đớn thông báo cho toàn thể đồng bào và chiến sĩ". Giọng chị phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam nấc nghẹn đã báo cho chúng tôi cái tin khủng khiếp đó. Chúng tôi cũng nghẹn lặng người đi… Thế là hết! Thế là không còn một tia hy vọng mong manh nào nữa! Tại sao lại có thể nhanh như thế được, Bác ơi… Bác chết rồi! Bác chết thật rồi mà chúng cháu, những đứa cháu, những đứa con của Bác vẫn còn bị giam cầm tủi nhục ở đây! Chúng cháu không thể…

    Có lẽ đó là cái đêm đau đớn nhất của cả dân tộc và của cả chúng tôi. Đêm ấy không ai nói một lời nào, chỉ thỉnh thoảng trong phòng giam vang lên những tiếng thở dài, tiếng sụt sịt và cả những tiếng nấc nghẹn ngào không kìm nén được. Ngoài kia ngay những người lính quân cảnh cũng đi lại khẽ khàng hơn. Dưới ánh sáng đèn tù, thoáng thấy những đôi mắt ngấn lệ của một vài người trong đám lính rằn ri ấy…

    Bác mất rồi! Phải biến buồn đau thành sức mạnh, người lính nào chả tự nhủ lòng như thế nhưng ở trong tù, biến thành sức mạnh thế nào đây? Thành ra nỗi đau nhân đôi, đau trong sự bất lực. Song cũng kỳ lạ lắm! Chắc anh đã biết trong tù làm gì có đủ áo quần mà mặc; vải áo vải quần xé ra lau vết đau, lau mủ máu, lau vệ sinh sạch trơn rồi, nhưng không hiểu bằng cách nào, sáng hôm sau ngay trước cửa trại đã xuất hiện một hàng chữ trắng viết trên nền vải đen rộng một tấc, dài hai chục tấc: "Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại". Tôi hiểu đây là kết quả của công tác binh vận hoặc tầm nhìn xa có ý thức chuẩn bị trước của liên chỉ huy trại tù.

    Nói thật anh ạ! Giữa nhà tù khổng lồ đâu đâu cũng rờn rợn khí tử thần, cái khẩu hiệu giống một chiếc băng tang đó thúc mạnh vào ngực ghê lắm! Ngay bọn giám thị cũng bị bất ngờ và choáng váng. Chúng chỉ dám lặng lẽ gỡ xuống rồi đem đi chứ không gầm gào như mọi lần. Bọn quỷ sứ cũng có một góc sâu thẳm trong trái tim đen tối dành cho vị lãnh tụ anh minh mà tầm vóc bao trùm lên trên cả những hận thù chính trị tầm thường.

    Chưa hết! Ít ngày sau, chúng tôi được bên khu sĩ quan ném đá sang báo tin: Bên đó anh em đã thay nhau trích máu vẽ lên một hình ảnh Bác Hồ ngay trên tường thiếc. Sao lại thay nhau? Thân tội tù gầy guộc tựa xác ve, chỉ một người làm sao đủ máu vẽ nên hình Bác? Phải mươi, mười lăm tù góp máu lại mới tạm gọi là có chút màu đỏ nhờn nhợt vạch lên tôn thiếc. Rất tiếc bây giờ cả khu tù không còn một dấu tích gì, chứ không trên tường thiếc đó chắc chắn vẫn còn những vệt đỏ mờ mờ. Bởi vì sau đó bọn giám thị bắt tù cạo rửa, tưới nước thế nào cũng không sạch, làm cách sao hình dạng đôi mắt và hàm râu Bác vẫn hiện ra.

    Nghe đến đây, tôi siết chặt tay anh Sơn:

    - Quý hóa quá! Rất cảm ơn anh Sơn đã cho tôi nghe được những kỷ niệm xúc động. Cảm ơn!

    - Bây giờ tôi kể về vượt tù - Sơn chớp chớp mắt lảng đi cái siết tay của tôi - Nếu nói về vượt tù thì có lẽ nhà lao Phú Quốc là nơi có nhiều cách thức vượt phong phú thiên hình vạn trạng nhất trong các nhà tù toàn quốc. Tôi nói điều này không sợ võ đoán vì nhà lao này toàn quân nhân thì bao giờ cũng giàu năng lực hành động và bản lãnh hành động. Người lính thường đồng nghĩa với sự quyết liệt phải không anh? Mà hành vi vượt tù đòi hỏi sự quyết liệt dữ lắm về cả phương diện tư duy lẫn phương diện thực hiện.

    Ngoài chui rào, ngoài bám gầm xe, chui thùng rác, thùng phân, ngoài đào hầm khoét ngạch… một trong những phương cách quyết liệt ấy là đánh lộn, cướp súng trốn tập thể. Đây là dạng thức hữu hiệu thường được anh em áp dụng nhất.

    Như anh đã biết tù không phải chỉ là tù ngồi một chỗ. Ngày ngày, chúng sử dụng anh em đi làm đủ trò tạp dịch bẻ củi, đào hào, chặt gỗ, dọn chuồng phân hố xí, giặt giũ, rào hàng rào… Nói chung đi bẻ củi về cho nhà bếp hay đi chặt gỗ trên núi về củng cố nhà trại là thứ tạp dịch chúng tôi chấp nhận. Nhưng bắt tù bỏ sức đi đào công sự, làm hàng rào để trói chặt thêm đời tù túng là chúng tôi không chịu. Không chịu luôn cả những tạp dịch tầm bậy như dọn chuồng phân hố xí cho lính hoặc nấu nướng giặt giũ, lấy củi cho vợ con nó. Các cuộc đấu tranh thường nổ ra ở mấy nội dung này và máu người tù cũng hay đổ ra ở đó. Đổ thì đổ nhưng phải đi hầu hạ kẻ thù và vợ con kẻ thù là dù có chết chúng tôi cũng không chịu. Sau này, thấy găng quá, chúng cũng bỏ qua luôn việc này.

    Trở lại việc ra rừng bẻ củi. Rừng gần thì đi bộ. Rừng xa thì nhảy ôtô. Thoạt đầu chúng còn chủ quan lơ là cho rằng tù binh Phú Quốc có cho chạy cũng chẳng biết chạy đi đâu nữa huống chi là trốn. Và chúng áp tải tù lấy lệ. Mười tù, có khi hai mươi tù chỉ có một hay hai lính cầm ngang súng nghễu nghện đi theo trông coi. Và gọi là trông coi cho có vẻ chứ vào mí rừng rồi là chúng bỏ mặc anh em, bấm nhau mò vào ấp kiếm rượu, kiếm gái giải khuây rồi chiều lại huýt còi tập hợp tù trở về. Thật đơn giản và nhẹ nhàng. Thời gian đó tù không có hiện tượng trốn thật. Núi rừng mênh mang biển trời bát ngát, biết trốn đi đâu về đâu? Sau đó nhờ có mấy trận đánh phục kích cướp tù của lực lượng cách mạng huyện thành công nên anh em mới hình thành ý thức vượt ngục và bọn lính cũng kìm kẹp gắt gao hơn. Trước là một kèm mười, sau là một kèm năm… một kèm hai. Thấy tù vẫn trốn được, chúng áp dụng tỷ lệ một kèm một. Tỷ lệ này xuất hiện sau Mậu Thân 1968, khi lượng tù lên quá nhiều. Anh thử hình dung mười người tù lẻo khẻo đi té lên té xuống lại có mười thằng lính vâm vạm, súng ống lăm lăm ghì gầm bên cạnh thì làm sao còn thoát được nữa.

    Vậy mà chúng tôi vẫn thoát đó, thoát được cả bốn mươi hai người một lúc. Lần thoát đông đảo nhất trong các lần thoát ngục. Nhưng riêng tôi lại không thoát, thế mới khốn khổ…
     
    3 people like this.
  9. westlife

    westlife New Member

    thích đọc những thể loại kiểu này nên vote cho chú lắc đã có công sưu tầm! mong còn nhiều bài hay nữa :no1:
     
    1 person likes this.
  10. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Kỳ 3: Người đào hầm

    Nhân vật kể chuyện trong đoạn sau là ông Nguyễn Đức Hoè, quê ở Lạng Giang, Bắc Giang. Khi nhà văn Chu Lai tìm gặp được ông để lấy tư liệu viết sách, ông đang là nhân viên bảo vệ của Đại học Cần Thơ.

    Thời chiến tranh, ông Hoè trong một trận đánh với địch đã bị bắt trong trường hợp bị đạn vào đầu, định giằng lựu đạn tự sát nhưng anh em không cho. Ông ngất đi và khi tỉnh lại đã thấy mình nằm trong xà lim rồi... Mặc dù bị giam cầm trong những điều kiện ngặt nghèo của nhà lao Phú Quốc, ông Hoè và các đồng chí của mình vẫn không nguôi khát vọng tìm lại tự do. Và ông đã trở thành người đào hầm để giúp các đồng chí mình vượt ngục. Sau đây là câu chuyện của ông Nguyễn Đức Hoè...

    Vâng! Tôi là người đào hầm, là người trực tiếp phụ trách đào hầm vượt ngục trong nhà lao Phú Quốc tại khu 2, trại giam hạ sĩ quan miền Bắc.

    Lần đào hầm của trại, tôi được ghi nhận là lần vượt ngục thứ ba. Sau tôi, còn một lần nữa ở trại giam sĩ quan miền Nam và trước đó là hai lần tại khu giam sĩ quan miền Bắc. Tất cả là 4 lần. Đó là kể 4 lần trót lọt chứ trong toàn nhà tù, ở khu này khu khác đã xảy ra không ít những lần đào không thành công, phải trả một giá rất đắt.

    Tất nhiên, trong hệ thống bố phòng chặt chẽ như thế không chỉ đào hầm mà ngay cả chiến thuật chui rào, cướp súng leo thùng xe đều rất khó, khó khủng khiếp nhưng đào lần trước thường là thuận lợi hơn lần sau. Bởi lẽ, cứ sau một vụ như thế, kẻ địch lại đúc kết kinh nghiệm và tăng cường phòng thủ gắt gao hơn. Ngược lại, ta cũng rút tỉa ra bài học của người đi trước mà lo đối phó. Tóm lại cả hai bên đều không ngừng giữ miếng, lừa miếng, kẻ giữ người ra.

    Tôi lấy ví dụ, trước đó nền nhà tù đều nện bằng đất và đêm đêm chỉ điểm danh gọi một lần đầu hôm và cuối sáng. Sau này, do thất bại phòng thủ, nền nhà chúng đổ xi măng hết và đêm nào cũng điểm danh xoành xoạch cả chục lần, kết hợp với đèn đóm sáng trưng ngay bên trong trại. Tại sao lại đổ xi măng? Để ta khó đục được miệng hầm khi trong tay không có một tấc sắt (về chuyện này, chúng làm dữ lắm! Mỗi chiều đi làm về, chúng lục soát kỹ càng từng người, soi mói cả vào chỗ kín, để không cho tù mang vào trại bất cứ một vật gì gọi là cưng cứng một tý, kể cả một đoạn que gỗ ngắn bằng gang tay). Còn điểm danh? Đây là một thủ đoạn khá lợi hại. Muốn đào thì thường phải đào đêm, đang đào mặt trên, chúng xộc vào gọi tên từng người khả dĩ còn đối phó được, nhưng vô phúc đang chui như chuột trong lòng đất, bất thần lên không kịp, coi như xong đời. Và đèn nữa. Suốt đêm sáng quắc như vậy, ai ngọ nguậy một chút chúng cũng biết chứ đừng nói là lục cục lào cào đào với bới. Nhưng không ăn thua. Anh em vẫn đào được, thời gian sau chúng dùng cả máy dò địa chấn mang từ Mỹ sang để tìm những dấu hiệu lạ trong lòng đất. Cái máy kêu o o cả ngày lẫn đêm nghe vừa buồn cười vừa sốt ruột.

    Trại tôi quyết định hành động đúng trong khoảng thời gian cao điểm của sự canh phòng này.

    Bắt đầu tôi gặp Bí thư Chi bộ để hạ quyết tâm. Đồng chí này nhất trí ngay. Sau đó Bí thư Chi bộ báo cáo thẳng lên Bí thư Đảng ủy: Nhất trí tiếp. Sao lại ngăn cản? Ra được người nào hay người đó, miễn là dám ra, hoàn toàn phù hợp với chủ trương chung và nguyện vọng của tất cả mọi người. Bí thư Đảng ủy trao đổi với ông Trại trưởng để lo tìm cách đối phó và trợ lực. Tại sao lại qua nhiều bước rắc rối thế? Chuyện vượt ngục phải tuyệt đối bí mật kia mà. Vâng! Đó là những kiểu vượt ngục khác, kiểu vượt ngục này nó dềnh dàng ra đầy trước mắt toàn trại, che giấu ai được. Mà đã công khai bày ra thì phải công khai báo cáo để nhờ tổ chức trấn an và thanh lọc nội bộ để không có một ai phản trắc cả. Chưa đào hay đang đào mà có một kẻ ngấm ngầm khai báo thì cái giá phải trả như thế nào chắc anh đã quá biết rồi. Cũng rất may, thời gian đó trại giam khá sạch sẽ. Có một tên chỉ điểm thì đã bị anh em phát hiện và nhân một lần đi rừng lấy củi đã dùng nứa trừng trị rồi đổ cho là tai nạn lao động vài tháng trước rồi.

    Lúc ấy đang là mùa khô. Đáng lẽ chúng tôi sẽ nán chờ đến mùa mưa mới bắt đầu vì mưa xuống, mọi động tác đổ đất, hốt đất đều hết sức thuận lợi. Đất đào lên chỉ việc đổ xuống rãnh chạy quanh trại là mưa trôi đi hết, gọn hơ, không một dấu vết. Nhưng mùa mưa cũng là mùa chúng canh phòng ráo riết. Tệ hại hơn, biết là mùa ta hay đào hầm, chúng xáo trộn tùm lum. Thành thử cấp ủy chỉ đạo phải đào xong trước khi chúng xáo trộn và đào ngay lúc chúng ít đề phòng nhất mặc dù mùa khô sẽ khiến cho việc đào phức tạp lên gấp hàng chục lần.

    Để chuẩn bị "dọn bãi" cho công việc, chúng tôi đề nghị ông Trại trưởng thông báo cho bọn giám thị biết là trong phòng xuất hiện dịch ho lao. Để xác thực, một số anh em nằm phía ngoài, gần cửa, đêm đêm phải cố rặn ra những cơn ho xé cổ. Ho vậy làm gì? Tôi sẽ kể sau.

    Thứ hai, đây là việc quan trọng nhất, chúng tôi thành lập một đội 15 người gồm toàn những người trẻ khỏe nhất để sẵn sàng lao động nặng, rất nặng so với sức người bình thường chứ đừng nói sức tù kiệt quệ. Đó cũng coi như đội cảm tử vì đang hành động nếu bị lộ, người tổ trưởng sẽ can đảm đứng ra nhận tất cả về mình để cứu sống toàn trại. Anh em cử tôi. Tôi nhận lời mặc dù trong lòng đầy lo lắng và không phải không có lúc rùng mình. Tôi phân 15 người ra làm 3 kíp, mỗi kíp 5 người trong đó có 3 người đào chính tạm coi như thợ cả, như kiến trúc sư là tôi, anh Ngọc nhà báo và anh Linh.

    Thứ ba là phương tiện dụng cụ. Nói nghe có vẻ to tát nhưng toàn bộ dụng cụ chỉ là cái quai cà mèn được cưa ra. Cưa bằng gì? Nói nghe như đùa nhưng mà là thật. Đi làm tạp dịch bẻ lén được một đoạn kẽm gai chừng gang tay, lén lút đưa vào. Có đoạn thép rồi, lại lo dùng gạch đánh bẹp, càng bẹp càng tốt. Thế là thành cưa. Đúng hơn là thành dao, một con dao không chuôi không lưỡi đuồn đuột. Muốn thành cưa phải dùng cạnh quai cà men cứa thành những mắt nhỏ. Vậy là quai cà men tạo nên giũa, giũa sau khi đưa vào bếp tôi lại cắt đứt quai cà men. Nội cái cưa đứt được một quai cũng phải mất cả ngày, trong khi đó cứa được càng nhiều càng tốt. Rất may kẻ địch không mấy để ý đến cái thứ quai cóc cáy han gỉ này. Nếu chúng tinh ý nhận ra sao độ này cà men cho tù ăn cứ trụi lủi nhiều thế thì gay go to.

    Có quai rồi, động tác nhỏ hơn là phải làm sao uốn khum khum được thành muỗng. Một loại muỗng đầu bằng đít, đít bằng đầu trông rất ngộ. Muỗng đấy là cái xẻng đào hầm, phương tiện độc nhất của chúng tôi. Những cái xẻng bằng hai ngón tay để moi ra hàng chục mét khối đất, tạo ra cả một địa đạo dài dằng dặc trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất thì anh biết nó công phu như thế nào. Nói đùa, lắm lúc ngồi buồn lại lần thần nghĩ, trong cái viện bảo tàng cách mạng đến là lắm xe to pháo lớn nhưng tại sao không có cái xẻng xinh xinh như đồ chơi trẻ con này nhỉ? Nghĩ thêm: Sau này Nhà nước một lúc nào chợt nhớ đến Phú Quốc, nhớ đến anh em tù binh cứ chín người được trở về lại có một người nằm xuống mà đắp một cái tượng đài kỷ niệm thì chỉ cần đắp một cái xẻng này phóng thật to lên là nói đủ tất cả.

    Ngoài quai cà mèn ra, chúng tôi tìm mọi dịp để tha lôi về các can to nhỏ, sứt sẹo giấu kín xuống gầm sạp để có lúc dùng đến.

    Việc chuẩn bị tạm xong, chọn ngày tốt, giờ tốt, không có cúng có vái gì, chỉ cầu mong cho ông bà phù hộ, chúng tôi bắt đầu hành động.

    Gọi "hành động" nghe có vẻ ghê chứ việc làm ban đầu như cái trò đùa. Trước hết, cử một người chuyên trách mở cửa hầm. Sau khi thống nhất chọn địa điểm mở miệng là ở dưới gầm sạp nằm, người này cứ tỷ mẩn dùng muỗng cà mèn cạo nền xi măng ở chính chỗ đó ra. Cạo từ từ, cạo nhỏ thôi, chừng bằng cái mặt ghế là cùng, cốt sao khi chui xuống chỉ cần lọt khít thân người, còn hai tay đã giơ lên đầu để thu nhỏ tiết diện rồi. Nền xi măng chúng đã cẩn thận đổ tới 10 phân, cái việc cạo này không thể ngày một ngày hai là xong, chỉ có thể kiên trì bóc đi từng lớp mỏng, bóc đến đâu, cho xi măng vụn vào túi áo túi quần đến đó, lựa lúc đi cầu mà lộn trái ra hất đi - Xin nói thêm việc này: Lúc chúng tôi đào hầm là thời điểm đấu tranh khá thắng lợi, khu trại chúng tôi được chúng cải thiện quần áo và sạp nằm.

    Cũng lúc ấy chúng tôi phải triển khai hai việc. Một, nhờ những người khéo tay nhất, mà trong tù thì thiếu gì những người khéo tay do tập hợp cả những ngành nghề của cả nước vào, kiếm gỗ vụn đóng một cái nắp hầm để nếu đang đào, chúng có vào kiểm tra cũng vẫn chỉ thấy một nền xi măng phẳng lì. Tất nhiên cái nắp phải thật khít khao so với miệng hầm và phía trên cũng trám xi măng đàng hoàng. Hai, lợi dụng buổi chiều được ra sân ngồi, một số anh em tranh thủ vừa đánh cờ vừa khoét xuống đất, trong cỏ trong rãnh những cái lỗ bằng khoảng ống lon một lít để dành ém đất sau này. Một lần đang khoét vậy, thằng giám thị đi qua đá vào miệng lỗ hỏi:

    "Cái gì đây? Định đào hầm hả?".

    Một anh nhanh trí trả lời: "Người chứ có phải chuột đâu mà tính đào hầm bằng cái lỗ này, thầy hai! Buồn tay thôi!".

    Nó bỏ đi. Nó bỏ đi thì dựa vào cái thế công khai này, anh em khoét nữa, khoét thật nhiều.

    Sau hai tuần nạo vét, lớp đất hiện ra. Đất sét pha cát thôi chứ nếu đất đá sỏi thì Phú Quốc sẽ không có sự tích đào hầm như ngày hôm nay. Đào gì nổi với cái thứ dụng cụ đó. Đất hiện ra rồi công việc bỗng trở thành hết sức khẩn trương, tranh thủ từng giây phút bởi vì, nói theo danh từ quân sự là bộc phá đã nổ rồi, chỉ còn cách nhào vô mà làm tới thôi.

    Từ khoảnh đất bằng cái miệng ghế đó, bọn tôi bắt đầu khoét sâu xuống. Độ sâu phải đạt ít nhất một mét, mới chuyển ngang được. Đất mềm, đào không khó. Cái khó là động tác đổ đất, ém đất. Và có lẽ người ta nói nhiều đến kỳ công đào hầm này là cũng nói đến cái đó. Đất mềm, dù đào bằng muỗng hay thìa, cũng chỉ ba ngày là xong. Nhưng do động tác ém đất nên phải kéo dài ra chục ngày.

    Ém đất có năm cách đã được chúng tôi suy nghĩ, bàn bạc kỹ và có cả rút kinh nghiệm những vụ đào hầm của khu giam bạn.

    Cách thứ nhất là cách thông thường. Mỗi người bỏ vào túi quần, túi áo hoặc túi lilon, giấy xi măng một ít rồi khi ra ngoài rải đi.

    Cách thứ hai, nếu không đi làm, mỗi người nắm chim chim một chút bằng bao diêm rồi ra sân làm bộ búng nghịch chơi, nghịch cho hết, hôm sau lại mang một nắm ra nghịch nữa. Tại sao phải búng và tại sao lại phải cầu kỳ rải tận ra ngoài rừng? Trong sân toàn đất cũ cả, lớ ngớ đổ đất mới lên thì thằng địch nào cù lần nhất cũng đoán ra. Trước đó đã có người bàn, hay là kiến nghị nó cho tù vỡ ít miếng đất trồng rau ở ngoài sân để cải thiện bữa ăn, thực chất là sới đất mới lên nhưng thằng giám thị gạt luôn. Nó rắp tâm muốn “bần cùng hóa” mình thì đời nào nó cho mình được cải thiện.

    Cách thứ ba là cho vào thùng rác rồi phủ rác lên, thậm chí cho cả vào thùng phân nhưng cách này không bền và chậm lắm.

    Cách thứ tư khá hữu hiệu là lén mang đất ra đổ vào những cái lỗ mới đào. Cái này hơi lằng nhằng, tôi phải nói kỹ. Những cái lỗ này khoét xong nhưng đâu có được để nguyên như thế mà đổ. Khoét xong phải lấp lại kẻo khắp nơi lỗ chỗ như dấu chân voi lại "Lạy ông tôi ở bụi này". Nhưng có một cái lạ mà không hiểu do ai nghĩ ra, tôi đồ chừng chắc do sáng kiến của một chiến sĩ công binh nào đó, lượng đất khoét lên khi lấp lại bao giờ cũng hụt một chút. Chúng tôi ép đất vào cái "chút" đó. Một cái "chút" chả được bao nhiêu, nhiều cái "chút" lại thành kha khá. Buồn cười! Đất ở thể đặc, lắp xuống nó lại co lại hơn. Nguyên tắc vật lý ngược này có khi ông trời bày đặt ra để giúp tù cũng nên.

    Cách thứ năm là ép đất ngay trong ruột hầm cũng theo nguyên tắc ngược này. Tức là dùng cách: "Lấy mỡ nó rán nó". Đào được muỗng đất nào, người sau lấy tay bóp nát miết vào vách hầm. Số đất moi ra và số đất miết vào cũng hụt đi một chút. Nhưng kiểu này rị rọ, không được nhiều.

    Nói như vậy để anh thấy được đào hầm giữa mùa mưa và mùa khô khác nhau trời vực như thế nào.

    (Còn tiếp)​
     
  11. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Kỳ 3: Người đào hầm (tiếp theo)

    ...Có một thước hầm chiều sâu rồi, chúng tôi chuyển sang chiều ngang. Đây là giai đoạn trọng yếu nhất. Ngay đào về hướng nào cũng phải cân nhắc kỹ. Tất nhiên phải ra hướng ngoài hàng rào rồi, nhưng coi chừng chọn phải khoảng cách xa quá. Suy đi tính lại, chúng tôi chọn phải hướng đào thông qua nhà bộ chỉ huy của nó. Vừa ngắn hơn vừa bất ngờ. Nếu chúng dùng máy dò địa chấn thì chắc sẽ dò chỗ khác, chứ ai lại dò xung quanh nhà bộ chỉ huy và thằng tù nào lại dám đào ngang mặt nó thế này. Yếu tố bất ngờ trên cũng được chúng tôi sử dụng và quyết định mở miệng hầm. Miệng hầm mở khuất quá, chúng dễ nghi, mở lộ quá, chúng cũng dễ nghi. Tốt nhất là mở ngay chân tường đối diện với nhà Giám thị. Ai dại gì đi đào khoét ngay dưới chân đối phương bao giờ? Chắc cái đầu của chúng nghĩ thế.

    Bắt đầu phải dùng hết tổng lực rồi! Hiệp đồng kíp đào 5 người liên tiếp thay nhau. Năm người này đảm trách một đêm một ngày lại đến năm người khác, năm người khác nữa. Một mét đất chiều ngang nghe đơn giản nhưng xoay xỏa khó lắm. Địa thế chật chội, nằm mà đào chứ đâu được quỳ được ngồi xắn đất. Quỳ hay ngồi dễ đào hơn rất nhiều, nhưng đường hầm sẽ rộng quá, đất lấy lên quá trời, biết đổ đi đâu. Phương châm là đào càng hẹp càng tốt, miễn là vừa một thân người trườn đi được.

    Mới nhủi sâu vào chừng được ba mét, sức lực của cả 15 người đã có vẻ cạn rồi. Cạn do đói khát, do bệnh tật, nhưng cạn chủ yếu là do ngộp thở. Gọi là 5 người nhưng một người chỉ loay hoay được chừng nửa tiếng lại phải trồi lên ngay thở dốc thở dác, mặt mày tái xám như đang cơn đau tim để người khác xuống thay. Mới chỉ có thế mà hai bàn tay ghì cán muỗng đã trầy trật hết da, nắm vào thấy rát bỏng. Khi đó nhìn lòng đất mênh mông đen ngòm mà nản quá, đã có người cáo bệnh định thôi nhưng nhờ anh em động viên nên lại cắn răng vào mà làm.

    Những lúc như thế mới thấy nghĩa tình đồng đội cưu mang nhau. Trong khi đội cảm tử mở trận đánh nhọc nhằn trong lòng đất thì những bạn tù già, yếu không hề ở không. Họ cứ cử nhau cảnh giới vòng ngoài, phát hiện thấy tiếng chân địch từ xa để báo động vào trong. Họ rủ nhau đánh cờ, kể chuyện Tây du, Thủy hử để che đi cái miệng hầm đang có chúng tôi ở trong. Họ còn tình nguyện cắt bớt khẩu phần ăn vốn đã quá ít ỏi của mình cho đồng đội và không ít người thấy chúng tôi vất vả quá đã có ý xin được thay nhưng nhìn thân hình tiều tụy, xanh bủng của họ, chúng tôi chỉ lắc đầu.

    Tất nhiên trong số đó không phải không có những người cầu an bình chân như vại. Họ không tỏ ý phản đối nhưng cũng không tỏ ra tán thành, thế nào cũng được nhưng không được làm ảnh hưởng đến họ. Họ thường tách riêng ra một nhóm mũ ni che tai, ngoài giờ đi làm, giờ ăn uống, họ co chân nằm lì, gọi không thưa, hỏi không nói. Đây là số đối tượng cần giám sát của Đảng ủy. Biết đâu, từ cái dáng nằm u uất kia đến sự phản đối cách nhau có bao xa.

    Vượt lên tất cả, đường hầm vẫn từng ngày nhích vô phía hàng rào, nhích từng phân một nhưng không hề dừng lại.

    Càng vào trong, tốc độ đào càng chậm. Một trong những nguyên cớ để chậm đó là động tác lấy đất ra. Thông thường chúng tôi lấy đất bằng cách kéo dây, một thứ dây bện bằng vải quần áo tù xé nhỏ. Người nào đến lần đào thì kéo theo mình chiếc can hỏng đã buộc một đầu dây vào đó, đầu kia nằm ở cửa hầm. Đất đào được lèn vào can rồi giật giật, người ở ngoài biết, vội kéo ra. Kéo ra rồi mới phân nhỏ mang đi đổ? Chậm quá! Nhiều khi đất đào được nhiều rồi nhưng can vẫn chưa giải tỏa xong khiến người bên trong phải nằm chờ trong khi đó sức lực không cho phép được nằm lâu trong đó. Cuối cùng chúng tôi bèn nghĩ ra một cách là khoan đào vào vội. Trước hết tập trung đào ngay một cái hố to ở ngay cửa ngách đá, tức là ở dưới chân cái độ sâu một mét. Cái hố này có tác dụng chứa đất tại chỗ, được can nào gọi ngay can đó mà đất từ hố mang đi đổ cũng dễ dàng hơn. Kế sách này đẩy tốc độ đào nhanh trông thấy nhưng cũng chỉ được ít ngày vì khi hố đầy rồi thì buộc phải trở lại cách thức ban đầu. Tuy vậy cũng không sao! Trong cuộc giành giật này, nhanh được ngày nào sống được ngày đó.

    Nhưng gay go nhất vẫn là cách thức đối phó với địch. Một lần tôi đang đào thì chúng ập đến điểm danh. Vào sâu quá tôi lên không kịp, anh em buộc phải đậy nắp lại. Thế là thiếu một người, nhưng rất may một ai đó đã nhanh tay tạo một cái hình nhân đang nằm trùm đầu trùm đuôi bằng các bao bì đựng cát khâu đính lại ở chính chỗ tôi vẫn nằm. Điểm danh xong một loạt, thằng quân cảnh bấm đèn pin vào cái hình nhân hỏi: "Thằng nào đây? Dậy!" Đứng ngay ở miệng hầm tim tôi thót lại, phen này chắc chết! Nó sẽ lấy đầu gậy lật chăn ra và... thế là xong. Tôi đã quay cuồng nghĩ đến chuyện mình sẽ từ từ đội nắp hầm trèo lên và sau đó... Chợt có tiếng trả lời: "Nó đang bệnh. Hình như bị sốt thương hàn hay sao đó, ỉa tong tỏng suốt!".

    Mới nghe đến hai chữ "thương hàn" thằng quân cảnh đã bật lùi trở lại. "Đ.mẹ! Hàn hàn con mẹ gì! Ăn bậy ăn bạ lắm vào rồi còn bày đặt chuyện thương hàn. Đi!". Nó nhăn mũi quay sang điểm danh ở dãy nằm khác. Thoát! Tôi toát mồ hôi đầm đìa, chân tay nhũn ra muốn khụy xuống. Đã hết đâu! Không hiểu nó điểm danh kiểu gì mà tới cả 15 phút. Mười lăm phút không có không khí, giống như người bị bóp cổ, tôi trợn mắt ngáp ngáp mấy cái rồi nhũn ra thật...

    Khi nó đi rồi, anh em lôi lên được thì tôi đã đang trong trạng thái ngất xỉu. Lơ mơ tỉnh dậy, nghĩ mình sắp chết, tôi thều thào trăn trối trở lại: "Tôi là Hòe, quê quán tại... Nếu tôi chết, hãy nhắn về cho vợ con tôi là...". Nói xong tôi tỉnh luôn, lồm cồm bò trở dậy. Nhác thấy những khuôn mặt cúi xuống cười ra nước mắt.

    Một lần khác, vì đã rút được kinh nghiệm nên anh em không chơi trò hình nhân quá ư mạo hiểm ấy nữa. Chúng tôi sử dụng món tráo người. Khi chúng sắp gọi đến tên người nằm dưới đất thì, nhờ có móc ráp trước, một đồng chí ở trại bên cạnh nhanh chóng chui rào qua tuồn vào thế chỗ và gân cổ "có" rõ to. Bọn giám thị không nói nhưng bọn quân cảnh có biết ai vào ai đâu, miễn người nào "có" người đó và đủ số lượng.

    Nhưng cái chúng tôi sợ nhất là máy dò địa chấn thì cũng lại xảy ra. Một buổi trưa, anh em đang nằm nghỉ thì một tốp lính mở tung cửa định ào ào vào với cái máy nhỏ xíu hình con rùa màu xanh trên tay. Chúng tôi đã nghe nói đến cái máy quỷ quái này nên ngán nó lắm. Nó có thể phát tín hiệu khi có một cái gì đó khác lại ở độ sâu năm mét chứ cái nắp hầm mỏng dẹp nằm sờ sờ ra đó thì ăn nhằm chi. Nhưng tổ chức Đảng đã lường trước nên vừa thấy bọn công binh an ninh, hàng chục người nằm ở bệ xi măng gần cửa bỗng nổi cơn ho, vừa ho vừa rên, vừa khạc nhổ om sòm, nhổ luôn cả cục đờm xanh lè vào chỗ nắp hầm nữa. Đám an ninh lùi lại hỏi tên giám thị: "Sao vậy?". Tên giám thị lúng túng trả lời: "Ho lao! Đang có dịch ho lao". "Thôi, sang trại khác. Khi nào mấy ông trị xong cái dịch quỷ quái này, bọn tôi lại đến!" và nó bỏ đi. Tên giám thị nhìn theo càu nhàu rồi cũng bỏ đi nốt, thực ra, đây là chuyện "gậy ông đập lưng ông". Nếu hệ thống trạm xá của chúng đàng hoàng một chút và tụi giám thị không cố tình làm khổ anh em thì ba cái ho này làm gì chúng không phát hiện ra thực hư.

    Đại khái trong quá trình đào hầm, chúng tôi đã trải qua những lần căng thẳng như thế mà không kể hết ra ở đây.

    Sang tháng thứ ba, đường hầm đã dài được chừng 60 mét, tức là phân nửa. Trong 60 mét đó có biết bao nan giải nhất vẫn là chuyện thiếu không khí. Càng vào trong càng thiếu. Có lần một kíp năm người đều ngất xỉu, hè nhau vào lôi mãi mới ra. Cứ đà này thì chỉ vào sâu ít mét nữa là không tài nào chịu nổi. Chúng tôi quyết định trổ lỗ thông hơi cho từng đoạn. Nhưng trổ vào đâu lại là điều không đơn giản. Trổ lung tung ư? Lỗ thông hơi thòi lên đúng khoảng trống hay giữa nền nhà của lính thì tính sao? Thế là phải cử người lên mặt đất đo đạc cẩn thận, đo bằng mắt, đo bằng bước chân, đo bằng cả quãng cách giữa các hàng rào để lỗ thông hơi phải trổ trúng rãnh thoát nước có cỏ mọc um tùm hay trổ trúng lòng hàng rào mà chúng không bao giờ để mắt, lai vãng tới. Trổ lần đầu trượt lại lấp đi. Lần hai cũng thế. Đến lần ba, sau khi khớp cự ly trên dưới thật chuẩn xác mới trúng vào rãnh nước. Chà! Cái que sắt dùng để cời than liều mạng ăn trộm được của nhà bếp vừa bực lên một cái, không khí đã hun hút tràn xuống mát lạnh đến nổi da gà. Tất nhiên do sướng quá mà cảm thấy vậy thôi.

    Có lỗ thông hơi rồi, giờ lo bảo quản cái lỗ đó chứ không chỉ cần một hòn sỏi, một trận mưa ập xuống là lấp hết, lại bí như không, chúng tôi nghĩ cách đi kiếm những ống thuốc pinixilin đã tiêm vất ở bãi rác mang về tiện đầu tiện đít rồi nối vào nhau thành một đường ống thủy tinh luồn vào cái lỗ đó, luồn hơi nhích đầu lên một chút. Lỗ thông hơi có thêm tác dụng tuyệt vời làm ống nghe kiểu tiềm địa đĩnh nữa. Đang đào, qua ống nghe bước chân, giọng nói chúng đến gần là tạm dừng lại. Rất tiện lợi.

    Cứ thế, khoảng năm mười mét chúng tôi lại tạo một đường ống như vậy cho đến điểm chót cùng. Công việc nhờ có nó mà thấy khỏe hẳn ra, có cảm giác đào cả đời cũng được.

    Xong việc ngộp thở lại xảy ra việc lạc hướng. Những mét đầu, hướng đi còn thẳng, những mét sau đèn đóm không có, toàn đào mò như lạc vào thiên la địa võng không biết hầm chạy theo hướng nào, cong hay thẳng nữa. Có đoạn phát hiện ra quá cong, thế là đành phải uốn lại, mất công kinh khủng. Khi đào phải tiết kiệm từng xẻng đất, bỗng nhiên cong một cái, phải khoét thêm hàng chục mét khối nữa, đổ ém ra sao? Cũng may là có cái khoảng trống cong cong đó để đoạn thẳng uốn lại có chỗ mà đắp đất vào. Về sau nghĩ ra cách dùng cây que dài một mét đặt trên ba điểm để tạo đường thẳng mà đào. Cái này anh chưa thật hiểu phải không? Thế này nhé! Một cây que đặt trên ba cục gạch con làm chuẩn. Cứ đào được một đoạn vài chục phân lại chuyển cục gạch ở dưới cùng lên đầu rồi nhấc cây que lên theo, làm sao nó vẫn nằm đè lên cả ba cục là được. Nguyên tắc "qua hai điểm ta có thể kẻ một đường thẳng" thôi, ở đây không phải kẻ mà đào nên thêm ra một điểm. Còn một cách nữa để định hướng, đó là căn cứ vào ngay sự thẳng hàng của các lỗ thông hơi. Ở trên quan sát, thấy một cái ống thủy tinh nào nhô lên hơi lệch một chút là phải thông báo cho ở dưới rõ ngay. Tất nhiên những ống thuốc tiêm nào nhô lên ở xa quá hay gần địch quá không đi qua đi lại xác định được thì đành thôi.

    Cứ như vậy qua 6 tháng ròng rã, chúng tôi đã nạo khoét được hơn 120 thước đường hầm. Kiểm lại chúng tôi đã tiêu tốn hết 30 cái quai cà mèn, 20 cái can hỏng và thay đổi cũng 20 lần dây kéo đất, còn 30 bàn tay chúng tôi hết sưng lại rộp nhưng rồi cũng nổi chai, mọc sẹo không còn thấy đau nữa. Đêm nằm đụng phải tay mình nghe lạ lạ như bàn tay người khác. 120 thước đường hầm cũng là ít nhất 60 mét khối đất, 60 mét khối này, ngoài rải ra rừng, ra bụi, nó còn cần bao nhiêu lỗ đất mới ém hết? Vậy mà vẫn giữ được bí mật! Cứ nghĩ tới đã rùng mình!

    Thực ra 6 tháng cho 120 thước đất cũng gọi là nhanh. Tôi biết có khu giam, anh em phải trần lực tới 8 tháng, 12 tháng để đào một đường hầm còn ngắn hơn thế này.

    Công việc đang đến đoạn chốt thì trại giam được bổ sung 12 người tù. Trong số đó có một anh cao to dềnh dàng, da trắng bóc trông như Mỹ, anh này thấy có chuyện đào hầm là xông vào ngay đòi tham gia, chúng tôi không chấp nhận là vì: Một, thân thể quá cỡ thế kia, xoay xở sao được mà đào. Hai là, đáng khả nghi lắm! Ở tù cực khổ vậy, da dẻ vẫn hồng hào thế kia thì chỉ có thể là gián điệp trà trộn vào.

    Đang còn bán tín bán nghi thì đồng chí Bí thư Đảng ủy rỉ tai tôi: "Tiếp tục đi! 12 người này hoàn toàn có thể tin được. Họ vừa giết một tên chỉ điểm ở nhà giam A7 nên bị nhốt chuồng cọp 10 ngày rồi điều qua đây. Cái con người to lớn kia khá lắm đó. Đến đâu quậy đấy, địch rất gườm và do hành động quá quyết liệt, khiến chúng có cớ đàn áp anh em nên cũng được tổ chức phê phán nhiều lần".

    Sau này, khi ra cứ rồi, tôi mới hay đó là anh Bảy Hòa, Trương Văn Hòa, Anh hùng LLVTND, giữ chức Tiểu đoàn trưởng nhưng khi bị bắt, anh chỉ khai là Trung sĩ, Trung sĩ quân bưu.

    Đang đào tiếp, lưỡi muỗng bỗng kêu cách một cái rồi quằn lại. Trong bóng tối đưa tay sờ thì thấy cả một cái cọc sắt to tướng cắm trước mặt. Cọc rào gai rồi. Tức là ta đã đào quá chếch lên trên. Cũng may, không có cái cọc này "cảnh cáo" thì có khi cha con dám đào thủng luôn lên trên mặt đất quá! Lại phải mất 5 ngày sau nắn sâu hầm xuống để vượt qua cọc.

    Tôi lẩm nhẩm tính toán trở lại mới ngớ ra là còn 3 mét chứ không phải một mét, bây giờ là gần nửa đêm rồi mà còn những ba mét nữa thì tính sao đây?

    Trong khi đó ở trên mặt đất, trong phòng giam, do chờ đợi lâu quá nên bắt đầu có sự chộn lộn qua lại, xầm xì hỏi han rất nguy hiểm nếu chúng xộc vào bất thần. Các đồng chí lãnh đạo phải đứng ra trấn an: "Không có gì. Vướng đá tảng thôi!". Câu nói thông minh ấy đã làm mọi người yên lặng trở lại.

    Như cuộc chạy vào nước rút, 3 mét đất còn lại, chỉ mất gần hai giờ đồng hồ, chúng tôi đã vượt qua ngon lành. Cửa hầm đã trổ ra trúng một bụi cây nằm dưới giao thông hào ngoại vi hàng rào.

    Chúng tôi khẩn trương tổ chức bò ra. Tất nhiên là có đủ 15 người trong đội cảm tử. Sau đó có thêm 27 người xin ra theo nữa là 42 người. Tôi mời đồng chí Bí thư Đảng ủy cùng ra nhưng đồng chí ấy bùi ngùi lắc đầu: "Còn hơn 60 anh em nữa! Cứ ra đi, tìm cách liên lạc với đất liền và báo cáo tất cả cho Trung ương hay. Mình không thể bỏ mặc họ. Chúc may mắn! Cửa hầm mình sẽ cho ngụy trang kỹ lại". Tôi chỉ còn biết nghẹn ngào ôm chặt lấy ông rồi theo mọi người xuống hầm.

    Trên đường ra có một chuyện tức cười. Hầm chỉ đào cho khổ người trung bình chui lọt chứ ai tính đào lọt cho cả khổ người dềnh dàng như anh Bảy Hòa. Vì thế, ra được nửa đường thì anh Bảy bị kẹt cứng lại, ra tiếp không xong mà trở lại cũng không được. Cuối cùng để kịp thời gian, chúng tôi cứ người đẩy người lôi anh ấy đi. Đúng là đôi vai anh cào đất rèn rẹt như một chiếc máy ủi. Lên được đến mặt đất, chúng tôi mới kinh ngạc thấy anh ngất xỉu đi từ hồi nào, hông đùi và vai rách nát, máu chảy ướt cả một vạt cỏ.

    Thế là thoát. Cứ nơi nào có pháo nổ là có quân ta, cứ nơi nào có bom đạn là đi tới, với khẩu lệnh hành quân ấy, mười ngày sau, chúng tôi đã tìm gặp được căn cứ Huyện đội Phú Quốc... nhưng điểm chỉ còn 25 người. 17 đồng chí đã ngã xuống trên dọc đường đi tìm. Điều đó lý giải tại sao con đường hầm đã mở ra thông thoáng đến thế mà khi ra, cũng chỉ có hơn một phần ba số tù tình nguyện...
     
    1 person likes this.
  12. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Kỳ 4: Vượt rào thoát ngục giữa ban ngày

    Trong nhiều cuộc vượt ngục ở nhà tù Phú Quốc của những người Cộng sản, có một cuộc vượt ngục huyền thoại của chiến sỹ đặc công Trần Hồng. Anh quê ở Bình Định, bị bắt tại Huế trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.Trong nhà lao Phú Quốc, Trần Hồng là một trong những người bị tra tấn dã man nhất.

    Vì anh luôn luôn thách thức kẻ thù và đứng ra nhận vụ thủ tiêu một tên chỉ điểm trong tù. Anh bị bẻ răng, móng tay bị ghè vỡ và từng bị nhốt "chuồng cọp", "chuồng chó" và rạch bộ phận sinh dục nhét đỉa trâu vào... Tuy vậy, với ý chí quật cường của người Cộng sản, anh và một đồng chí của anh đã làm một cuộc vượt rào thoát ngục ngoạn mục để trở về với cách mạng... Sau đây là lời kể của chiến sĩ đặc công Trần Hồng.


    ... Tôi quyết định vượt rào ban ngày, tức là đánh thẳng vào những giây phút bất ngờ nhất của đối phương. Đây là một đòn cân não năm ăn năm thua mà bây giờ nghĩ lại vẫn còn thấy rùng mình, vẫn không hiểu tại sao lúc ấy mình lại có thể thực hiện được.

    Tất cả xuất phát từ hình ảnh thê thảm của người tù tâm thần nhảy rào giữa ban ngày để hứng đạn cho chết đi. Hình ảnh ấy ám ảnh tôi hoài, vừa thương cảm vừa hờn căm lại vừa ai oán. Rồi biết đâu một thời khắc rồ dại nào đó tôi cũng hóa điên mà tìm cách tự sát như con người bất hạnh kia? Vậy trong lúc còn tỉnh táo, trong lúc còn chưa điên hẳn tôi phải ra đi. Tôi biết từ nay tôi đã là mục tiêu sống của kẻ thù, chúng cho chết lúc nào hay lúc đó. Tôi không muốn lấy cuộc đời chiến sĩ ra làm một thứ trò chơi tiêu khiển cho đối phương ngon lành như vậy. Tôi phải đi! Đi bằng ngay lối đi của kẻ tâm thần, lối đi mà đối phương không bao giờ lại có thể hình dung ra được đó chính là cách đi của người hoàn toàn tỉnh táo. Đơn giản vậy thôi.

    Tôi bắt đầu quan sát. Các giấc trưa, trong khi anh em nằm thiêm thiếp thì tôi, dù cơn sốt nóng trộn lẫn cơn sốt rét khiến đầu nhức như búa bổ, vẫn cố giương mắt nhìn trân trân ra ngoài. Nơi đó nắng đang đổ lửa xuống cảnh vật, có cảm tưởng cả khu rào kẽm gai trùng điệp, cả những chòi cu đứng chơ vơ ở vành ngoài khu rào cũng đang bị đốt nóng đỏ dần lên.

    Sân tù vắng tanh. Bọn quân cảnh chui hết vào bóng rợp để tránh nắng. Mấy tên giám thị lâu lâu đi qua đi lại săm soi nhìn vào trại một chút lấy lệ rồi lại mất hút đi đâu. Cả khu tù chỉ có mấy cái chòi cu là còn lính gác. Nhưng cũng gác uể oải lắm! Thằng thì ngáp, thằng thì lim dim gà gật, thằng lại giở sách giở báo ra coi để giết thời giờ. Chúng hoàn toàn tin rằng đây là thời điểm an toàn. Đường độc đạo ra vô đã có cự mã chắn kín rồi, mấy thằng tù dù có cánh cũng không thể lọt khỏi một thước rào nào chứ đừng nói đây là cả hàng chục hàng trăm thước. Vả lại chui rào ban đêm bọn tù còn chết như rạ cả ra đấy, huống hồ lại là ban ngày. Có mà nằm mơ! Cho nên cái thằng gác ngồi ở hướng đối diện với tôi yên trí giở sách ra coi.

    Nó coi sách gì? Trinh thám ba xu, kiếm hiệp kỳ tình hay dâm ô đồi trụy cũng kệ cha nó. Miễn là nó có coi. Coi nhưng cứ sau một trang hắn lại ngóc mặt lên lờ đờ quan sát một vòng. Quan sát không thấy gì, hắn lại chúi đầu xuống coi tiếp. Cứ thế, cái đầu hắn ngẩng lên gục xuống theo một quy luật định sẵn đúng bằng chiều dài trang sách. Ước tính khoảng ba phút! Chỉ cần mươi mười lăm cái ba phút đó thôi là...

    Đến đêm tôi tính rủ anh Đài cùng hành động nhưng bò đến nơi thấy ảnh đang nằm rên hừ hừ nên đành thôi. Chuyện này, ngoài ý chí và sự liều mạng ra, nó còn đòi hỏi một thể chất tối thiểu, đang bệnh đau như ảnh thì không thể nào thực hiện nổi. Nhưng tôi cũng không muốn ra đơn chiếc mặc dù hành động một mình trăm bề thuận lợi hơn.

    Tôi bò đến cậu Mơ, tuổi trạc bằng tôi và tính tình cũng khí khái cương trực lắm.

    - Bậy nào! - Chưa nghe tôi nói hết, Mơ quạu lại - Muốn tự sát à? Ai lại vượt rào giữa ban ngày? Có họa là thằng rồ.

    - Im nghe tớ nói đã - Tôi ghìm đầu Mơ vào sát miệng mình - Thế mới bất ngờ. Tớ nhìn kỹ rồi, lần nào cũng như lần nào nó không thay đổi đâu, chỉ cần cậu nhanh nhẹn và làm đúng như tớ.

    - Khoan đã - Hơi thở của cậu ấy dồn lên nặng nề - Tính toán cho kỹ đã. Tại sao ta không chui rào ban đêm?

    - Không được! Kiểu chui rào này chúng đã quá quen thuộc và biết cách phòng ngừa rồi, khó lắm! Chỉ còn cách chọc vô cái khe hở chủ quan trong đầu óc của chúng. Cậu không nhớ tháng trước, khi cậu Thân định lợi dụng chiếc xe chở củi vô bếp để chui xuống gầm nó theo ra ngoài ai cũng cản à? Vậy mà cậu ấy cứ chui và cứ thoát. Thủ đoạn tác chiến đó.

    - Biết rồi! Nhưng ông là dân biệt động, lại có võ, ông có thể vượt rào dễ dàng, còn tôi, tôi ngại...

    - Không ngại cái gì hết! Mà sao lại đá cái chuyện võ vẽ vô đây. Không có một thứ võ nào, thứ biệt động nhà nghề nào thay cho cái táo bạo trong đầu này này. Tớ cam đoan ăn chắc nếu cậu cứ làm đúng như tớ, đừng nửa đường ngã lòng.

    - Nhưng... Ra được ngoài rào rồi thì sao? Trời vẫn còn sáng mà - đến đây giọng của Mơ đã có phần xuôi xuôi.

    - Còn sáng thì mình ém lại. Cây cỏ lùm bụi lúp xúp thiếu gì.

    - Ờ...! Để mình suy nghĩ thêm đã... Nghen!

    - Cứ nghĩ đi! Nhưng sáng là hạn cuối phải trả lời cho mình. Cậu không đi, mình cũng cứ đi. Nhớ kỹ đó. Tớ đã báo cáo kế hoạch này với ông Sáu Long rồi.

    - Ông nói sao?

    - Tất nhiên là nhất trí.

    - Ờ... Để mình nghĩ... nghĩ thêm.


    Để mặc anh bạn nằm đó, với sự trăn trở thêm thắt chắc là phải kéo dài suốt đêm của mình, tôi bò về chỗ và nhắm mắt rà lại toàn bộ các chi tiết cần hành động.

    ... Sáng hôm sau, trước giờ đi làm cỏ, Mơ đến bên tôi, mặt mày trông hốc hác đi nhưng đôi mắt đổ ghèn dấp dính lại cháy lên:

    - Đ.mẹ! Tớ quyết định rồi! Đi! Tôi lén bóp chặt tay Mơ.

    Buổi sáng hôm đó trôi qua quá chậm tưởng như lão mặt trời rực đỏ không chịu chuyển dịch một tí ti nào hết. Nhưng rồi cái gì cần đến cũng đến. Ăn uống bậy bạ xong, tôi và Mơ nháy nhau thằng trước thằng sau ra cầu tiêu ở sát chân rào giả đò đi cầu (thời gian này do ta đấu tranh nhiều và cũng do Hồng thập tự quốc tế can thiệp nên chúng tạm dời cầu tiêu ra khỏi phòng để đối phó). Hành trang đi đường kiểm lại thật nghèo nàn: Một chiếc quần lót rách tơ tướp mặc trên người, một bộ lấy dáy tai tự làm để giết thời gian trong tù, một con dao con bằng quai cà mèn và mấy viên thuốc kháng sinh anh em nhường cho, thế thôi.

    Ngồi trong nhà cầu hôi thối nóng như rang, tôi phóng nhanh mắt ra xung quanh. Mọi thứ vẫn không thay đổi: Thằng lính gác trên chòi đang cắm cúi đọc sách, thằng giám thị mất hút trong khu nhà bếp, mấy tên quân cảnh đang chúi mũi vào bàn cờ vạch trên đất của anh em tù ở sau hè theo kế hoạch giữ chân của anh Sáu nhằm hỗ trợ cho cuộc vượt ngục của hai đứa tôi. Ngon rồi! Tôi hỏi nhỏ sang cái cầu kế bên:

    - Xong chưa?

    - Có ị đâu mà xong - Giọng Mơ hồi hộp.


    - Vậy, chuẩn bị nghen! Khi tớ vọt là phải vọt theo liền. Hít thở cho sâu, động tác chính xác không khua động. Chuẩn bị...

    Vừa kịp thằng gác cúi xuống, tôi luồn qua chân cầu tiêu rồi bật nhanh qua hàng rào thứ nhất. Đây là loại rào bùng nhùng, không cao lắm nhưng cồng kềnh ba vòng xếp chồng lên nhau, phải dùng tay bá cọc sắt rồi lăn mạnh người qua kiểu vận động viên nhảy sào. Và không ngờ chúng tôi đã lăn qua rất nhanh nhẹn. Kỳ lạ thiệt! Sức lực trong tù tưởng đã kiệt cùng nhưng vẫn còn ẩn chứa một tiềm năng quật khởi dồi dào đến thế, cái dồi dào mà bây giờ dù đã khỏe mạnh đàng hoàng, có bắt nhảy lại cũng không nhảy được.

    Do tính toán kỹ địa hình địa vật, nên lúc ấy những lùm cỏ ba ngạnh mọc lúp xúp ngang bắp chân đã che kín được thân thể chúng tôi, đủ để tên gác có rời mắt khỏi trang sách nhìn lên thì cũng chỉ thấy quanh mình toàn một màu thép gai và cỏ lác ảm đạm.

    Chắc anh sẽ hỏi: Vậy còn mìn trái chúng gài dày đặc và chó ngỗng chúng thả tùm lum thì sao? Dạ! Rất đơn giản, bọn tôi có quan sát và tính toán cả rồi. Chó, ngỗng ư? Không khi nào chúng thả ban ngày vì làm gì có tù nào dám chui rào ban ngày, còn mìn trái? Chúng chỉ tập trung trong ruột rào chứ khoảng trống giữa các lớp rào chúng để trống để còn có thể cơ động đi lại khi có tình huống.

    Đảo mắt lờ đờ một vòng không thấy gì, tên gác trên chòi lại tiếp tục cúi xuống. Nó sẽ lại cúi xuống được ba phút... Ôi chà chà! Lúc ấy tôi lại thầm rủa mấy cha văn sĩ sao viết ít thế, đáng lẽ mỗi trang nhét chữ vô cho ken sít thì có phải tôi được 5 phút không? Chúng tôi sẽ đánh ngay vào cái trang sách ba phút đó để vượt tiếp hàng rào thứ hai. Đây là hàng rào hình mái nhà. Thấp ngang bụng thôi nhưng bề mặt dàn ra đến trên ba mét, chuyên đóng vai trò làm vật cản xung phong.

    Hàng rào này vượt khó? Chui ư? Không được rất chậm chưa đâu vô đâu thì đã hết ba phút rồi. Vẫn chỉ có thể dùng cách bám cọc sắt lăn người (rất may còn có cọc sắt, nếu không coi như hoàn toàn thất bại). Nhưng không lăn một lần qua được. Lần thứ nhất tung người đến khoảng giữa chọn một ô rào thoáng rộng nhất thả chân xuống rồi tức khắc lại bám tiếp cọc nhún chân lăn lần thứ hai ra hết lớp rào. Tôi thực hiện các động tác này ngọt hơn mặc dù bàn chân và ống chân chà vô gai rào rớm máu; còn Mơ, do sức yếu nên khi lăn vô giữa, bàn chân to bè thả không gọn vào mắt cáo rào gây một tiếng động reng reng khá to. Nhưng thật may, cậu ấy lại tiếp tục lấy đà nhảy tiếp được. Vùi mặt trong cỏ, hai đứa hồi hộp nhìn lên.

    Nghe động, tên gác nhớn nhác dòm ngay xuống chỗ chúng tôi, nòng súng rà qua rà lại ngo ngoe như đầu rắn hổ, nhưng hồi lâu không thấy gì, chắc nó đoán con chồn, con sóc rung dây hoặc tiếng rung reng cũng như cái bóng gì đó nháng ra dưới mắt vừa rồi chỉ là ảo ảnh nên hắn lại ngáp một cái rõ to, tiếp tục cúi xuống. Hú hồn hú vía! Hai thằng nhìn nhau cười méo xẹo và nghiến răng tiếp tục hành động.

    Hàng rào thứ ba là hàng rào tường cao quá đầu người. Hàng rào này không thể bám cọc tung người qua được, cũng không thể loay hoay trèo từng nấc. Không sao! Tôi đã có cách qua nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ. Hơi nhổm người chạy gần vào bước lấy đà, tôi chụm hai tay bật người lao đầu qua một cái lỗ rào bằng hai bàn tay theo cái kiểu người ta bay qua vòng lửa trong rạp xiếc hay cái lối trai gái làm động tác nhảy lộn vòng xuống nước. Cũng ngọt, chỉ phải cái hai bên nách và đùi rách nát. Rách thế chứ rách nữa, kể cả giò cẳng bị tiện đứt cũng cứ nhảy. Cưỡi lưng cọp rồi anh ạ! Chỉ còn một cách là sống chết cũng nhào lên phía trước.

    Chạm đất, tôi cuộn người lăn một vòng lấy lại cân bằng rồi ngoái đầu lại. Mơ chuẩn bị nhảy. Tôi thoáng thấy hai mắt cậu ấy bạc đi vì lo lắng. Không sao! Tôi đã dự kiến trước nên quả quyết phẩy tay ra hiệu. Mơ lao qua... Vừa thấy cái đầu lởm chởm và hai cánh tay sần sùi mụn ghẻ của cậy ấy nhoi ra khỏi lỗ rào bên này, tôi vội quỳ xuống đưa tay lên làm trụ đỡ cho cả thân hình choắt cheo kia có điểm tựa mà chuồi qua nốt. Vẫn chưa hết nửa trang sách. Lạ thiệt! Nằm co tròn trong đám cỏ, hai thằng thi nhau thở để mặc cho máu me chảy ra ròng ròng... Kìa! Nó lại ngẩng lên rồi. Đó! Nó lại sắp cúi xuống...

    Cứ thế, bằng khoảng cách một trang sách, chúng tôi lặng lẽ vượt từng lớp rào. Mười sáu lớp tất cả. Mỗi lớp là một công trình, một thử thách. Nếu có một ai đó nhìn ra thì sẽ thấy giữa cái nắng chói chang 12 giờ trưa bỗng dưng lại xuất hiện hai cái bóng dị dạng tung lên rồi lại hụp xuống trong biển rào gai như ma quỷ, lại như hai vệt nắng nhếnh nháng mỗi lúc mỗi đỏ lòm ra...

    Sau gần một giờ đồng hồ đùa giỡn với tử thần, chúng tôi đã ra khỏi hàng rào cuối cùng, trên thân thể không còn một mảnh quần áo và hoàn toàn kiệt sức, nhìn nhau mà không còn nhận ra nhau là người nữa, hai cái giẻ thịt vấy máu thì đúng hơn, những mảnh giẻ cuối cùng đã giắt lại trên 16 lớp rào rồi.

    Nằm nghỉ hẳn nửa tiếng trong bụi sim cho hoàn hồn, hai đứa tiếp tục mở cuộc hành trình thứ hai không kém phần gian khổ đi tìm cách mạng.
     
    1 person likes this.
  13. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Kỳ 4: Vượt rào thoát ngục giữa ban ngày
    (Tiếp theo)


    Tôi nói điều này anh có cười cho là duy tâm thì kệ anh nhen! Trước lúc vượt rào, khi còn ngồi chổm hổm trong hố xí, tôi có cầu nguyện trời phật đàng hoàng đó. Cả vái nữa. Tôi nói: "Hỡi hồn thiêng sông núi, hỡi thần phật bốn phương hãy phù hộ cho con vượt qua được sự khổ nạn gian nguy này. Nếu sống, con nguyện sẽ làm người ngay thẳng, sống có trước có sau, sống vì bạn vì bè... Hãy phù hộ cho con!". Vậy mà sống đó. Phải chăng thần phật đã động lòng trắc ẩn mà giúp chúng tôi được sức lực và lòng can đảm vượt qua hết 16 hàng rào tử địa.

    Lúc đó tôi tin. Còn lúc này, trước khi dấn thân vô chặng đường mịt mù một sống hai chết đi tìm cách mạng, tôi lại khẩn cầu nữa. "Hỡi thần phật bốn phương! Thần phật đã thương hai đứa tôi thì thương cho trót. Các vị thần cao cả hãy phù hộ cho chúng tôi đi đúng hướng, đúng đường, không bị lạc, không lọt vô tay kẻ ác để chúng tôi mau chóng đến được với những người anh em cùng chí hướng đang lẩn quất ở đâu đây. Nếu được vậy, hai đứa tôi lòng thành xin tế một...".

    Khấn đến đây, tôi giật mình. Năm 1967 khi còn ở ngoài, trước khi vô trận đánh ác liệt không cân sức, bọn tôi cũng xin tế một con heo lòng thành nếu thắng lợi nhưng ở ngoài, một con heo có thể xoay xở được, còn ở đây, tế vậy mà không có khác nào nói xạo, thần phật đâu tin, mà dù có kiếm được thì cũng không nên hoang phí, chuyện chi cũng một con heo, nghèo tàn nghèo mạt còn gì. Anh cười hả? Ừa! Cái đầu óc tôi lúc ấy lẩm cẩm vậy đó nhưng mà thực cái bụng, thực bụng dù rộng hay hẹp thần phật cũng không nỡ quở. Tôi bèn hạ giọng: "... Nếu được vậy, hai đứa tôi xin lòng thành tế một cái đầu heo!".

    Vái trời vái đất, vái đường vái núi xong; chúng tôi bứt lá lau qua máu trên người rồi nhằm hướng núi lên đường.

    Chuyện dài dòng lắm, nếu viết anh có thể viết được cả một quyển riêng về chuyện này, 16 ngày cả thảy kia mà. Tức cười! Như là sự sắp xếp cố tình của tạo hóa. Tôi ở tù 16 tháng, vượt lăn 16 hàng rào và lạc rừng cũng đúng 16 ngày. Ý quên! Tính những trận đòn nhừ tử thì tôi cũng chịu 16 trận thừa sống thiếu chết nữa. Tôi chỉ kể vắn tắt, anh nghe chơi.

    Đi lạc trong rừng đến ngày thứ bảy, chúng tôi chưa kiệt sức vì đói nhưng kiệt sức vì tuyệt vọng. Đi hoài, đi mãi mà sao vẫn chỉ thấy rừng là rừng. Rừng càng đi càng rậm rạp, càng bước tới càng không thấy có đường ra. Rất may nhờ có sự chỉ dẫn của mấy người bạn tù từng trải mà hai đứa còn kiếm được thứ nhét vô bụng.

    Sang ngày thứ tám, hai đứa mò đến được một khu chùa bên ngoài có biển đề "Hồng Long Tự". Mừng quá! Có chùa là có dân, có dân là có đồ ăn, có dân là sẽ tìm ra được tất cả (sau này mới hay đó chính là chùa Suối Đá, thuộc địa phận thị trấn Dương Đông).

    Hai thằng rủ nhau xuống suối tắm rửa cẩn thận, lấy lá lấy lẩu buộc chằng che đi cái gì cần che trên thân thể để nhà chùa khỏi tưởng là quỷ sứ dưới địa ngục hiện về rồi khép nép đi vào sân.

    Chùa này sư thầy đã chết, chỉ còn bà Tuyết, pháp danh Diệu Ý và cô Diệp Thị Hoa, pháp danh Diệu Hiền ra tiếp. Ban đầu họ sợ nhũn người, mồm miệng líu ríu nói không ra lời. Sau thấy chúng tôi tội tình quá, cứ dán mắt đăm đăm vô buồng chuối chín trên bàn thờ, mặt mũi lại không tỏ vẻ gì độc ác cả nên họ chạnh lòng mà mở cửa cho vô gian trong. Hai bà hỏi chúng tôi có đói không? Hai đứa gật đầu. Họ nấu cho mỗi đứa hai lon gạo ăn với nước tương, chớp mắt một cái là hết vèo. Họ nấu thêm một tí nữa. Cũng hết! Nói đùa, giá lúc đó họ có nấu cho mỗi thằng chục cân gạo, nghĩ bụng chắc cũng hết. Nhưng bảo nhau kịp dừng lại. Có đói đến chết cũng phải giữ tác phong người cách mạng, đừng để nhân dân nhầm mình với thổ phỉ mà coi khinh. Vả lại, mỗi bụng cũng chục chén cơm lùm lùm rồi còn gì.

    Ăn xong chúng tôi mới rỉ rả nói thực mọi chuyện, tự xưng mình là ai và nhờ nhà chùa giúp đỡ chỉ hướng đi đến với Cách mạng. Cả hai bà lo lắng nhìn nhau, trong cái nhìn đó có cả tin lẫn ngờ, lẫn cả phần sợ hãi. Họ chỉ hướng lung tung không có căn cứ cụ thể gì hết. Họ nói chỉ nghe đồn mang máng mạn Bắc Đảo có Cách mạng, các ông cứ đi về đó. Rồi họ nấu thêm cho chúng tôi mỗi người một lít gạo, nắm lại, gói ít muối tiêu và bọc nải chuối đưa thêm cho chúng tôi mỗi đứa mượn bộ quần áo nâu sồng kiểu nhà chùa, một cái xoong con, hộp quẹt, con dao phát rừng nữa.

    Chúng tôi cảm ơn lòng tốt nhà chùa rồi lại khăn gói thất thểu đi tiếp, lòng dạ hoang mang không biết đi đâu, về đâu bây giờ. Có cái lạ là con chó trắng của nhà chùa cứ bịn rịn đi theo chúng tôi suốt đêm như đưa tiễn, lại như thầm dẫn đường. Nó không kêu, không sủa, cứ đi lầm lũi, dụ sao cũng không quay trở lại. Gần sáng thấy lòng vòng hoài vậy không ổn, tôi phải làm như giận dữ cầm cây gậy dứ dứ nó mới kêu tiếng một rồi chạy lộn trở về. Nhìn con mắt nó buồn lắm! Tôi nghĩ bụng, hay là nó báo điềm gở nhưng không dám nói sợ núng lòng đồng đội.

    Qua ngày thứ chín. Lòng dạ bắt đầu thấy bất an và vô cùng nản chí. Lặn lội gần chục ngày thừa sống thiếu chết chỉ để khao khát được gặp dân, nay gặp dân rồi lại như chưa gặp gì cả, lại thấy thất vọng hơn, cuộc hành trình dò tìm lại càng mờ mịt mông lung. Bấm đầu ngón tay biết bữa ấy là ngày mười lăm tháng chín. Tôi ôm chặt lấy Mơ lúc ấy đang lên cơn sốt rét rung cả đệm lá rừng, nói: "Bà con chưa thật tin mình, hiểu mình nhưng đối xử với mình, vậy là được rồi, vậy là có thể hy vọng rằng lực lượng cách mạng vẫn có, vẫn đang lẩn quất đâu đây. Cứ đi thôi, nhằm rừng xanh mà đi, đi mười ngày không gặp thì đi hai mươi ngày... ba mươi ngày... một trăm ngày... Dứt khoát sẽ gặp. Và cùng lắm không gặp được thì hai đứa tạm là người rừng ăn trái cây, củ lá ít năm chứ nhất định không ra đầu hàng giặc, không quay trở về nơi chốn cũ".

    Mơ nhìn tôi rất lâu bằng đôi mắt sốt rét lờ đờ rồi lặng lẽ gật đầu. Tôi trào nước mắt ra vì thương bạn thương mình. Chính tôi là người đề xướng việc này, tôi là người động viên Mơ ra, nay cậu ấy có mệnh hệ gì thì tôi biết ăn nói ra sao? Một nấm mồ nho nhỏ nằm ẩm ướt giữa rừng, ngày đêm là mục tiêu cho đàn mối, lũ kỳ đà đến bới đào đục khoét. Hình ảnh hiu hắt đó dội mạnh vô lòng tôi. Tôi cũng đã yếu sức lắm! Nhưng những đòn tra tấn ở trong tù lựa lúc này trội phát, hè nhau ngóc dậy hành hạ tôi.

    Tôi nói với Mơ cũng là nói với chính lòng dạ đang lung lay của mình. Hình ảnh ngôi chùa với cảnh sân vắng, mái buồm, thềm đá rêu phong... thấm buốt vô suy nghĩ của tôi. Xét đến cùng, cuộc đời con người là cái gì khổ đau, quá thể, thù hận, chém giết rồi tù đày... sẽ dẫn đến đâu? Một khu chùa, một chén cơm với tương cà, một ánh sớm mai chim hót và một chiều hôm gió nhẹ lao xao... Phải chăng toàn bộ lý do để sống với đời cũng gói gọn trong ý nghĩ ấy?"...

    Đó! Vô ngày thứ chín, trong đầu tôi nó lại nảy sinh những trạng thái tình cảm như vậy, không biết có yếu đuối quá không hay đó chính là chuyện ngàn năm vĩnh cửu muôn đời bao giờ cũng đúng của kiếp người? Ấy vậy nhưng cái phần người thứ hai, phần người thù hận, phần người khao khát hành động, khao khát được tự do trong tôi lại vẫn buộc tôi hoàn tất ráo riết hành vi thoát ngục của mình. Trong đó lại xen vào cả cái phần người siêu hình tin ở tâm linh thần phật nữa. Buổi sáng, tôi đứng quay mặt về hướng Đông, hướng mặt trời mọc để, xin lỗi anh, nghiêm trang đái một bãi. Tôi tin rằng nước đái sẽ đuổi xua con ma lạc đường lạc lối chạy đi. Dìu dựa vào nhau, chúng tôi lại tiếp tục cắt rừng băng tới hướng Bắc Đảo.

    Đi được một đỗi, chúng tôi phát hiện ra dấu vết bọn biệt kích để lại trên một vạt cỏ trống: Cơm sấy, dấu giầy đinh, than củi còn đang ấm nóng và cả một vóc củ mì luộc dở. Khốn khổ! Tôi bỗng bật cười: Lính mà cũng ăn củ mì ư? Chúng cũng đói khát chẳng khác gì chúng tôi ư? Thì ra làm thằng lính ở bên nào cũng cơ cực cả. Hai thằng vơ đám củ mì, cơm sấy nhét tuốt vô ruột, làm một bụng nước suối thẳng cẳng rồi lần mò đi nữa. Tất nhiên là đi chếch với hướng đi của đám biệt kích để đừng đụng nhau.

    Đi vậy được hai ngày. Ngày thứ mười một, chúng tôi đụng một căn nhà ở sát mí rừng. Quan sát thấy nhà nghèo: mái lá, tường đất, không vườn không tược gì hết, nhìn giống một căn chòi trông rẫy hơn là một cái nhà. Chúng tôi quyết định vào bởi lẽ, bằng kinh nghiệm tôi hiểu rằng nhà nghèo bao giờ cũng có người đi Cách mạng hay thân Cách mạng. Bọn giàu sang có khi nào chứa chấp chúng tôi!

    Nhưng mọi lý thuyết không phải bao giờ cũng hoàn toàn đúng, giống như tình cảnh trong chùa bữa trước, nhà có hai chị em thì cậu em vừa nhác thấy chúng tôi đã trốn biệt, còn cô chị, một cô gái gốc Hoa khá đẹp lại tỏ ra hết sức sợ hãi. Thấy thái độ ấy, tôi đành nói thẳng sự thật. Nói chung trong hoàn cảnh trớ trêu cứ nên nói thật, nói dối vòng quanh có khi họ nghi hơn đâm lỡ việc.

    - Nếu cô ngại - tôi ôn tồn nói - thì cho anh em tôi xin một bữa cơm rồi đi luôn. Được không?

    - Dạ... nhà cháu... không còn gạo ạ!

    Tôi lắc đầu với vẻ buồn lòng vì hai nghĩa. Cỡ trạc tuổi nhau mà xưng hô vậy chắc mặt mũi tôi biến dạng qua những năm tháng tù đày và lang thang chục ngày trong rừng dữ lắm; thứ hai: hết gạo thật hay cô ấy nhẫn tâm muốn đuổi chúng tôi đi lẹ chừng nào hay chừng đó cho rảnh nợ?

    Có lẽ thoáng bắt gặp nét mặt tội tình chân thật ấy ở tôi, cô gái chợt dịu giọng:

    - Hết gạo... nhưng mà còn nồi cá... có nhiều... hai chú ăn đỡ.

    Nói rồi, cô gái đi xuống bếp mang nồi cá lên. Cái nắp nồi vừa được mở, cả hai đứa đã muốn nhễu nước miếng: đầy tú hụ trong nồi, mười khúc cá nằm xếp lớp béo ngậy, cái vây cái vi nở phồng lên...

    - Hai chú ăn đi... ăn hết đi! Ở đảo chỉ thiếu gạo chứ không thiếu cá.

    - Cám ơn!

    Chả khách khí gì chúng tôi ngồi xuống chén sạch trơn nồi cá kho nhạt, vừa nhai vừa ước ao giá bây giờ có một chén cơm xen vào thì ăn xong có chết lăn quay ra cũng hả một đời.

    Mơ nói nhỏ vô tai tôi:

    - Chuồn đi! Coi chừng thằng nhỏ hồi nãy đi báo lính thì chết cả nút.

    - Ừ nhỉ! - tôi ngớ ra rồi quay qua cô gái - cô chỉ giúp chúng tôi đường về khu giải phóng được không?

    - Khu giải phóng nào cơ ạ?

    - Tức là khu có anh em cách mạng ở đó.

    - Cháu... cháu không biết. Không biết thiệt mà!

    - Lạ kỳ - tôi bỗng nặng giọng, hòn đảo to bao lăm mà hỏi ai cũng không biết cách mạng nằm ở đâu cả. Thôi được rồi, cô không chỉ chúng tôi vẫn cứ đi, nếu chẳng may bị bắn chết thì oan hồn chúng tôi sẽ hiện về bắt tội cô đó.

    - Nói vậy tội nghiệp cháu chú ơi! - giọng cô gái đã có nước mắt - chị em cháu mải lo mần ăn còn không đủ sống, công sức đâu đi lường gạt thiên hạ.

    Chúng tôi nhìn nhau... Cô gái này nói thật. Nhìn đôi mắt, khuôn mặt kia quyết không thể là người xấu. Tất cả chỉ do kẻ thù ở đây kìm kẹp và lộng hành lắm thì người dân mới bị o ép như đui như điếc thế này.

    - Chào cô gái, chúng tôi lại đi mà trong bụng lơ ngơ không biết đi đâu cả.

    Đêm thứ mười hai thì chúng tôi đụng một con lộ rộng, nằm áp tai xuống mặt lộ như thấy tiếng xe chạy, cả tiếng máy bay lên xuống nữa. Đây là đâu và con lộ này là con lộ gì? Lúc đó tôi hoàn toàn không hay biết, bụng dạ cứ đinh ninh rằng hai đứa đã đặt chân tới vùng Bắc Đảo. Nhưng Bắc Đảo, nơi hy vọng có căn cứ cách mạng lại lắm ôtô quân sự của chúng chạy rì rì suốt đêm như vậy ư? Chả có lý! Sau này mới biết hai đứa đã nằm ở cách Dương Đông không bao xa. Và con lộ này là con lộ nối liền Hàm Ninh với thị trấn. Còn lúc đó, giữa màn đêm thanh vắng, nằm trên mặt lộ mát lạnh nghe gió xào xạc thổi bốn hướng mà thèm một giấc ngủ xoải chân, xoải tay không lo lắng, không sợ hãi gì hết!

    Mơ bảo ban đêm chắc an toàn, hai đứa cứ kéo thẳng đường lộ mà đi, ngán chui rúc rừng rú quá rồi! Tôi gật đầu. Lần đầu tiên sau bao nhiêu ngày làm thân giun, thân dế, đêm nay hai chiến sỹ giải phóng quân vừa thoát ngục ung dung bước trên mặt lộ như bước trên chính mảnh đất ông cha thoáng đãng của mình.

    Thấy một ánh đèn le lói bên đường, chúng tôi rủ nhau ghé vào. Đó là nhà của một ông già người Tàu. Vừa nhìn thấy chúng tôi, ông đã vội đóng ập cổng lại, bỏ đi vào nhà trong, gọi thế nào cũng không ra nữa. Gọi thêm, chỉ có con chó lông đen sủa vang trả lời. Cay đắng! Cay đắng thật tình anh ạ! Lúc đó tôi tan rã cả người trong một suy nghĩ nhức nhối: thân phận thằng lính bỏ thây ngoài trận mạc, tàn tạ trong lao tù để rồi được cái gì? Hay là chỉ đổi lấy cái ập cửa ghẻ lạnh của nhân tình thế thái kiểu này? Buồn quá! Hai thằng cúi đầu lầm lũi bước tiếp.

    Gần sáng thấy một mái nhà xiêu vẹo ẩn kín trong lùm cây, hai thằng đạp cửa kêu nữa. Thử đánh canh bạc liều. Nhà này mà cũng ghẻ lạnh thì coi như bỏ luôn, từ nay tốt nhất là chỉ có chui nhủi vô rừng mà tìm. Thật bất ngờ, người mở cửa là một cô gái gầy gầy đêm hôm trước. Thì ra đi đứng ngớ ngẩn thế nào, sau hai đêm lặn lội tưởng đã đi được xa lắm, chúng tôi lại trở lại ngôi nhà này.

    Sau khi nghe kể, cô gái chớp mắt một hồi rồi nói với cậu em trai chừng mười bốn, mười lăm tuổi đang ngồi trân mắt nhìn hai ông khách như ở hành tinh khác đến:

    - Em dẫn mấy chú xuống hầm, chị nấu cơm. Giờ này để mấy chú đi nữa, đường sá không biết, chắc rơi vô tay mấy ông quốc gia thôi.

    Cậu bé gật đầu, dẫn chúng tôi ra vườn... Cơm nước xong, cô gái nói:

    - Đêm nay hai anh (chắc cô đã nhận ra tuổi thực của chúng tôi qua khuôn mặt râu ria) cứ ngủ ngon, an toàn không có sao đâu. Sớm mai tôi sẽ dẫn hai anh ra ém ở bìa rừng. Khi nghe tiếng tù và hãy ra. Sẽ có người dẫn hai anh đi.

    Cô gái bỏ đi rồi, Mơ lo lắng nhìn tôi.

    - Coi chừng ta sa vô bẫy?

    - Phải tập tin vào con người đi - tôi nói - mà dù có sa vô bẫy thì đã sao, thằng lính phải chấp nhận mọi hoàn cảnh. Nhưng khỏi lo đi! Nhìn vô mắt cổ, tao thấy tin hoàn toàn. Ngủ đi, mai lấy sức.

    Quả thật lòng tin của tôi là có cơ sở. Sớm mai, cô gái gọi chúng tôi dậy sớm, bưng ra một xoong cơm nghi ngút khói với cá kho bắt ăn hết. Tôi bảo nên nắm vài nắm đi đường, cô lắc đầu cười. Ăn xong cô dẫn chúng tôi ra bìa rừng, ngồi khuất mình ở một lùm kín rồi quay trở lại sau khi chúc hai đứa thượng lộ bình an. Nhìn theo cái dáng con gái gầy gầy trẻ trung khuất dần sau vạt lá, tôi chợt thấy một chút bâng khuâng lạ lẫm nhen lên trong con tim tù ngục của mình...

    Ngồi được một lát thì vang lên một tiếng tù và ở bìa suối. Hai đứa đi ra. Và thêm một cái bất ngờ: Người thổi tù và kiêm dẫn đường không phải ai khác ngoài cậu bé em đã bỏ trốn khi nhìn thấy chúng tôi đêm hôm trước của cô gái vừa rồi.

    Bằng những bước đi thành thạo, chỉ trong vòng hai tiếng, cậu bé đã dẫn chúng tôi đến với cách mạng ngon lành. Người đón chúng tôi đầu tiên là anh Ba Chanh, cán bộ của Huyện đội. Anh nói:

    Tối hôm trước, thằng nhỏ này vô báo có hai chú. Tôi kêu nó dẫn ra nhưng tới nơi, hai chú đi mất tiêu rồi. May quá chưa chui đầu vô hàng rào địch. Thôi, xuống suối tắm giặt, lấy quần áo đây mà thay rồi lên ăn cơm. Nghỉ đã, nghỉ ít ngày cho khỏe rồi ta tính. Có muốn ở lại cùng đánh giặc cho vui thì nhận đại một cây súng, hở?

    Cả hai chúng tôi trào nước mắt. Thế là trải qua bao ngày cực nhục, hôm nay chúng tôi đã được trở về gia đình cách mạng thân yêu của mình, trở về trong tiếng nói ấm áp yêu thương của những đồng đội như anh Ba Chanh, như chị em cô gái tốt bụng vùng địch hậu.

    Chẳng cần suy nghĩ nông sâu, cả hai đứa chúng tôi đều tình nguyện ở lại bổ sung vào lực lượng võ trang của huyện đảo, hoạt động tại đặc khu Hàm Ninh với nhiệm vụ nắm địch và đưa đón anh em mình từ trong ngục tù vượt ra
     
    3 people like this.
  14. dieulinh

    dieulinh Ong lang thang

    Hay! Tiếp đi chú Lắc ơi!
     
    2 people like this.
  15. mattroi

    mattroi Ong tìm mật

    Đọc và tự hào lắm anh Lắc ạ...!
     
    2 people like this.
  16. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Thật đáng tiếc là báo An ninh thế giới cuối tháng đã ngưng không đăng tiếp các cuộc vượt ngục có một không hai trên thế giới nữa, luckylac cũng đã lùng hầu hết các nhà sách tại Tp.HCM, thậm chí đã lùng tận nhà sách Gia Lai nhưng tất cả tập truyện "Nhà lao Cây Dừa" của Nhà văn Chu Lai đều đã bán hết sạch và chưa tái bản nên không thể đăng tiếp loạt bài này. Tuy nhiên để thay thế thì loạt bài "Những cuộc chiến đấu của những người cộng sản ở nhà tù Phú Quốc" sẽ được tiếp nối. Mong các độc giả thông cảm và ủng hộ...
     
    1 person likes this.
  17. luckylac

    luckylac CLB bóng đá ĐA NHIM

    Những cuộc chiến đấu của những người cộng sản ở nhà tù Phú Quốc


    Trong kỳ trước đã kể về cuộc vượt rào thoát ngục li kỳ và ngoạn mục của đồng chí Trần Hồng, một chiến sĩ đặc công, một người lính bộ đội Cụ Hồ quả cảm, để trở về với cách mạng. Loạt này xin được tiếp tục kỳ một của chùm bài kể về cuộc đấu tranh đầy khí phách của một trong những người Cộng sản đã bị giam cầm trong nhà lao Phú Quốc, đồng chí Trần Hồng.

    - Khi bị bắt vô tù tôi mới hơn hai mươi tuổi, còn trẻ lắm, dường như là một trong những người tù trẻ nhất nhà lao. Vậy mới khổ! Trẻ bao giờ cũng nóng máu. Nóng máu trong một trận đánh biệt động - Binh chủng tôi tham gia ở mặt trận Huế "sáu tám" - Còn khả dĩ chấp nhận được, nóng máu trong tù chỉ có thiệt thân. Tôi bị chúng nó ghè gãy răng ngay từ lúc xuống sân bay từ Biên Hòa về.

    - Vô khu biệt giam được ít bữa, tôi nổi quạu đụng độ nữa, chúng tống xuất tôi sang khu biệt giam cấm cố. Dù ở ngoài đã tưởng tượng hết cỡ, nhưng vô đây mới thấy sự tàn bạo còn trên sức tưởng tượng của mình nhiều. Tôi có thể tự hào hoặc có thể nhân danh một người bất hạnh nhất mà nói rằng: Thằng Hồng biệt động chưa Đảng này đã trải qua hết các ngón đòn tra khảo độc địa nhất.

    Tức một cái là ở ngoài đã vì chỉ điểm mà bị moi hầm, nay vô tù cũng tại vì mấy thằng chỉ điểm mà ăn no đòn. Có gì đâu, tôi to mồm, thấy cái gì ngang tai chướng mắt là nói toáng lên, thế là bị mách lẻo, thằng nào mách lẻo cũng không biết nữa, nếu biết có bị bể sọ tôi cũng cho nó ngập miệng vô cát. Mà nó không đánh ngay lúc ấy, lại cứ nhè mấy ngày lễ, Tết như 1 tháng 5, 22 tháng 12, ngày 3 tháng 2 mới lôi ra lấy búa đập vỡ móng tay, lấy kìm bẻ từng chiếc răng một. Răng tôi bị bẻ rồi, còn móng tay tôi bị ghè vỡ gần hết. Tức quá tôi nói liều: "Oai gì cái lối trói người lại đánh, thử ra ngoài rừng xem nào, một tao chấp cả chục!".

    Tất nhiên chúng không theo tôi ra rừng mà quẳng vô chuồng cọp, chuồng chó. Chuồng cọp còn dễ chịu mặc dù đã chịu không nổi, còn chuồng chó thì anh chỉ có một động tác ngồi như chó, không nằm, không đứng, không bệt đít xuống được. "Con chó người" ấy mỏi quá, chỉ cần thay đổi động tác chút xíu là cọc nhọn sắt sắc như dao cứa nát thịt ngay. Mà đâu chỉ có ngồi một ngày, ngồi năm ngày, một tuần có khi còn hơn nữa. Nắng hay mưa cũng kệ. Nắng, chúng còn cho kê lò than gần kề, lạnh, chúng hắt thêm nước lạnh. Vậy mà không cảm cúm, không ốm đau gì cả mới kỳ chứ. Cơ cực quá, thân thể người ta bỗng có khả năng miễn dịch hay sao ấy. Thử tưởng tượng đang vận sức lom khom như thế mà nổi cơn sốt rét thì chỉ có cách úp mặt xuống cọc nhọn mà chết.

    Hồi ấy tôi đang còn sức lực, thông thường sau vài ngày nằm chuồng chó người khỏe cũng lăn ra bê bét hàng tháng, nhưng tôi vẫn tỉnh queo. Tưởng thách thức, điên tiết chúng lại hành tôi nữa bằng cách bắt tôi lộn qua lộn lại cái hàng rào bùng nhùng cao gần một thước có gài trái bên trong hàng chục, hàng trăm lần. Lộn được không sao, yếu sức một chút ngả vô hàng rào là mìn nổ tan xác... Có người chịu không được sự hành hạ cân não đó đã tự động thả đời mình vô mìn cho thoát nợ. Người khác gần như phát bệnh tâm thần, giữa trưa chui liều ra khỏi chuồng cọp rồi trèo lên nóc sắt, vừa chửi kẻ thù, vừa lấy nứa rạch bụng ruột lòi ra cả đống... Lại có người táo tợn hơn cứ vừa la hét vừa tâng tâng nhảy qua các lớp rào, cố tình cho đụng mìn hoặc cho lính xả súng bắn chết. Kinh khủng lắm!

    Nhưng kinh khủng nhất vẫn là chúng bắt ăn bát cơm trộn cát cộng với nước đái. Cơm ăn không đã mắc ói rồi, nay phải trộn thêm cát, thêm nước đái nữa thì chịu sao nổi. Vậy mà phải chịu đó. Không ăn chúng đập! Đang ăn ói ra, đập! Ăn xong ói, càng đập, bắt hốt lên ăn nữa. Thành thử để tránh đòn, chỉ còn cách nhắm mũi, nhắm mắt và nuốt một hơi sau đó nằm thẳng cẳng ra thở khí công. Thở cho quên đi. Chỉ cần chóp chép miệng nhớ lại mùi vị là ói ra mật xanh mật vàng.

    Khu biệt giam này không có giường, có phản, có bệ bục gì hết. Đêm đi ngủ, tù cởi truồng nhòng nhõng nằm co quắp xuống nền nhà, sáng ngủ dậy, máu mủ ở vết ghẻ ăn thâm cả đất. Kỳ nào mà thùng phân chúng phạt không cho đem đi đổ, đêm nằm trở mình đè vô, giòi nổ nghe bép bép. Sáng ra không khăn khố không nước nôi, phải lấy ngón tay thấm nước miếng rồi chấm vô mắt cạy ghèn ra một lúc mới nhìn thấy được. Nhiều khi mặt mày dơ dáy quá, không còn một miếng vải nào mà chùi đành lấy miếng giẻ đã lau ghẻ của bạn mà đưa lại lên mặt... Vậy mà có sao đâu. Tức cười! Nhờ như thế mà bây giờ bưng chén cơm ngồi cạnh con nít đang ỉa vẫn nhai nuốt ngon lành. Anh tin không? Sức chịu đựng của con người nhiều khi tưởng như vô hạn.

    Tôi bị đánh nhiều quá, mỗi lần chúng quẳng trả về trại giam, anh em thương mà nhường quần áo cho, tôi gạt đi: "Mặc làm gì! Mặc vô, nó đánh lại rách nữa! Kệ tôi!". Chúng đánh tôi phát chán tay, và tôi càng bị đánh càng dạn đòn, càng coi khinh, nên càng bị đánh. Về sau, chúng bày ra một trò quỷ thuật khác độc địa hơn.

    Đỉa trâu Phú Quốc bự lắm anh ơi! Khi no máu nó có thể to tựa cái chuôi liềm cắt cỏ, đen mun, sần sùi. Lần đó, anh em phát hiện được một thằng chỉ điểm lợi hại đã nằm vùng lâu rồi nên quyết định diệt. Tất nhiên là tôi xung phong. Thêm một người nữa là anh Phạm Duy Đài, người đánh sân bay Phú Bài đầu tiên. Anh này thuộc loại võ nghệ siêu, phong độ ngang tàng nhưng vô tù thời gian đầu lại tỏ ra dao động, hay thở dài và khóc lóc. Có lần bực quá tôi cự:"Dũng sĩ mẹ gì mà sướt mướt như đàn bà con nít, thằng địch nó khinh!". Chửi vậy mà anh mần thinh, có lẽ về sau thấm nhục và tinh thần dũng sĩ phục hồi trở lại, ảnh đã tỏ ra khá hơn và lần này xung phong cùng với tôi diệt tên chỉ điểm.

    Thấy tôi xung phong anh trại trưởng can. Anh này tên là Long, Huyện ủy Phù Cát, kiết lỵ, thổ tả, bệnh tật liên miên đến nỗi một mắt văng cả con ngươi ra, con mắt bên kia sắp lòi ra thì được một y sĩ cứu chữa kịp. Tôi nói "văng" theo nghĩa đen chứ không phải nghĩa bóng gió gì đâu. Người mắc bệnh này, kỳ lắm, mắt cứ lồi dần ra, lồi tới đâu máu mủ chảy ra tới đó rồi một buổi trưa đang ngồi thì tròng mắt bỗng bật ra rơi hẳn xuống ngực, lòng thòng nối với hốc mắt đỏ lòm bằng mấy sợi gân hay sợi cơ gì đó trắng nhợt. Tôi may chưa đến nỗi nếm cảnh này nhưng cũng bị mù mắt bốn tháng, sau mới sáng dần ra. Bây giờ mỗi khi nhìn ra nắng, con mắt tôi lại trào nước như có ai vừa ném một vốc cát vô.

    - Em đề nghị người khác, chúng nó nghi em sẵn rồi, bây giờ dính vô, dễ bị rầy rà lắm - Anh ấy chớp chớp con mắt lồi nói.

    - Cho rầy rà luôn, sợ cái cóc! - Tôi trả lời.

    Trả lời xong tôi mới thấy thương anh. Khổ! Cái thân làm trại trưởng trên đe dưới búa có sướng nỗi gì? Thỏa hiệp với giám thị thì bị anh em chửi, thỏa hiệp với tù thì bị giám thị trù, có khi phải sống trong sự ghẻ lạnh khinh miệt của đồng đội mà không biết biện minh ra sao. Cái trại biệt giam này hình thành được 18 tháng thì có đúng 18 ông trại trưởng bị chúng đập chết mỗi khi trong trại xảy ra sự cố đấu tranh gì. Tôi nắm tay anh:

    - Dù có chết cũng không ân hận, anh Sáu! Ít nhất trừ đi một con sâu ghẻ cho anh em. Có gì, em sẽ nhận tất cả về mình.

    Không nói gì thêm, ông lặng lẽ gật đầu rồi lùi về chỗ nằm gần thùng cầu tiêu.

    Đêm đó tôi và anh Đài bí mật trùm áo vô đầu thằng chỉ điểm rồi bóp cổ nó chết. Sau đó, hai thằng bí mật khiêng xác chết quẳng xuống nhà bếp, dùi đầu nó vô lò than đang ngút khói.

    Sớm hôm sau, ông trại trưởng làm bộ hớt hải lên báo thằng giám thị rằng thằng đó đang đêm lạnh quá bò xuống bếp sưởi thế nào trúng gió nên gục chết. Thằng giám thị đá hất cái mặt xác chết đã cháy nham nhở lên, cười gằn:

    - Lại thêm một thằng! Chúng mày khá lắm! Được rồi, cứ coi như chết cảm. Bây giờ tao cho chục thằng chúng mày cũng chui cổ vô đó coi có chết cảm không.

    Nó cầm dùi cui gõ vô đầu mười người bắt ra khỏi hàng. Thấy tình hình vậy, tôi liền đứng ra.

    - Không có việc gì phải thử hết. Tôi đó. Tôi giết nó đó! Nó là thằng dâm ô đồng tính, khi đêm nó cứ bò sang chỗ tôi mó máy, nói hoài không nghe thì giết. Để cái ngữ ấy dơ dáy cả trại giam.

    Thằng giám thị cười gằn một phát nữa rồi ra lệnh dẫn tôi về khu nhà bộ chỉ huy. Lúc xoay lưng bước đi, tôi còn kịp nhìn thấy con mắt sâu hoắm của anh Đài dõi theo tôi khổ sở lắm. Tôi biết, lúc đó tôi chỉ nhìn trở lại một lần nữa thì dứt khoát con người có một thời ngang tàng kia sẽ bật kêu lên tự nhận tên mình để chia lửa cùng tôi.

    Lên tới phòng tra hỏi của bộ chỉ huy nhà tù, chúng để tôi ngồi trơ khấc một mình với đủ các loại dụng cụ kinh dị và mùi hôi máu bốc lên nồng nặc. Phen này chắc chết tháo hết! Tôi nghĩ vậy và cố dọn cho mình một cái chết đàng hoàng nhất. Mãi gần trưa mới có một thằng mặc áo thun đen, quần lính khật khưỡng đi vô. Dáng hắn loắt choắt, nghiêng lệch nhưng chân tay lại săn bện như cuộn bằng cáp. Tử thần nhà lao mà thiên hạ đồn đây rồi! Tôi thoáng thấy ớn lạnh trước cái nhìn nhọn hoắt lờ dờ của hắn, cái nhìn của một con thú chuẩn bị xé cắn con mồi.

    Hắn ghé bộ mặt nhờn nhợt có mấy cái mụn lấm tấm đỏ - kiểu mụn của những con bệnh giang mai mãn tính - và cái miệng nồng nặc mùi hành tỏi vào sát mặt tôi.

    - Lại là mày! Bây giờ chết được chưa hả mày?

    - Được rồi! - Tôi trả lời thản nhiên và tự trong lòng cũng muốn chết để tránh đi những ngón đòn tra khảo cực hình.

    - Há! - Hắn cười khằng khặc - Vậy nhưng mày vẫn sống, vẫn phải sống mới ngon chứ. Tụt quần ra! Mà Đ.mẹ! Mày làm c... gì có quần mà tụt. Tháo cái khố dơ dáy kia ra!

    Đến đây tôi không muốn kể lại tỉ mỉ mọi chi tiết làm gì. Mệt đầu lắm! Đại khái là nó và hai thằng nữa đóng đai tôi vào một cây cọc chôn giữa phòng. Sau khi trên người tôi không còn một mảnh vải nào hết, một thằng dùng dao cạo râu rạch thật ngọt một đường theo chiều dọc của bộ phận sinh dục tôi. Chắc nó thiến để cắt đường sinh nở? Tôi thoáng nghĩ và một chút buồn đau dội khẽ lên đầu. Nhưng không! Nó quẳng con dao đi, thò tay vô một cái hộp sắt đựng nhóc nước và lôi ra một con đỉa trâu đen vặn vện. Con đỉa lúc này không no, không đói, chúng mẩy nhúng nhính vừa phải, to chừng cái nắp cây bút máy. Bằng những động tác vừa thành thạo vừa thô bạo, chúng nhét gọn con đỉa vô bên trong cái vết rạch đang tứa máu trên bộ phận sinh dục của tôi. Rồi cũng bằng những động tác thành thạo không kém, chúng khâu vết rạch lại, nhốt gọn con đỉa vô trong luôn. Xong đâu đó chúng dang ra xa châm thuốc lá hút, để mặc tôi với con đỉa mở riêng một trận đánh với nhau. Chỉ khác, con đỉa được mặc sức tung hoành, còn tôi lại bị bó chân bó tay.

    Gặp hơi máu lại nằm ngập trong máu, con vật bắt đầu uốn cong thân mình hút thức ăn. Nó hút nhoi nhói rồi mạnh dần lên. Mỗi lần cái vòi của nó hoạt động tôi lại cong rút người lại như có kẻ đang cầm kìm rút gân rút tủy mình. Máu vô bụng nó bao nhiêu, thân mình nó nở to ra bấy nhiêu, và càng nở to nó lại càng say sưa hút. Bộ phận sinh dục của tôi căng nhức không chịu nổi, thốn buốt lên tận óc, như hàng trăm cái cật nứa cứa siết vô đó. Tôi xây xẩm mặt mày như có một tia lửa hàn xuyên thẳng vô háng, nóng rẫy và rát bỏng. Con đỉa tham mồi, càng phình to. Bộ phận sinh dục của tôi sưng u lên, méo mó và chuyển động... Đến bây giờ tôi mới hiểu tại sao chúng nó lại cố ý nhồi một con đỉa không no không đói vô trong tôi. Nếu đói, con vật sẽ yếu sức không tung phá hết mình được, nếu no, con vật sẽ trở nên cù lần chậm chạp. Cái bộ phận tội nghiệp của tôi không bị xé rách toang mà chỉ rách từng phần, từng thớ thịt nhỏ. Bên trong con đỉa vẫn cuộn lên cuộn xuống dữ dội. Tôi có cảm tưởng nó sắp bò ngược lên trên, vừa bò vừa phá vỡ tất cả các tế bào mạch máu, đứt tất cả các dây thần kinh; vừa bò vừa sinh sôi nảy nở ra hàng trăm hàng ngàn con đỉa nhỏ nhằm óc não tôi bám tới... Đau đớn và kinh khiếp tột độ, tôi ngất xỉu...

    Khi tỉnh dậy, cái bản mặt nhờn nhợt của thằng "tử thần" đã kề sát bên tôi, tiếng nói khàn khàn:

    - Tưởng mày anh hùng đảm lược mà lại chịu thua trước một con đỉa dơ dáy à? Mẹ kiếp! Anh hùng rơm! Mà thử mở mắt ra nhìn cái của quý của mày coi giờ đây nó ra cái hình thù gì?

    Tôi lờ đờ đưa mắt xuống và khẽ rùng mình. Trời đất ơi! Cái vật ấy của tôi lúc này chỉ còn là một mẩu thịt nhăn nhúm và nhoe nhoét máu không còn nhận ra cả hình hài ban đầu vốn cũng đã quá thảm hại nữa. Nó tính triệt đường sinh sản của tôi, uất quá, tôi vặc luôn:

    - Hèn! Giỏi thì cắt mẹ nó đi, bày đặt trò vè gì khốn nạn vậy?

    Hô! - Thằng cai ngục cười - Giết mày dễ quá và mày cũng đáng tội giết lắm rồi nhưng để mày sống với cái con c... dị dạng của mày giỡn chơi. Hy vọng ta lại tái ngộ trong lần vượt ngục sau hả, chú lính Quân giải phóng anh hùng sợ đỉa!

    ... Một giờ sau chúng thả tôi về. Mọi người đổ xô tới hỏi han, chăm sóc. Anh Đài xin ở đâu được một chút thuốc đỏ và nước muối, vừa lúi húi rửa vết thương cho tôi vừa nói:

    - Tôi từng này tuổi, chuyện vào sinh ra tử coi khinh mà thua chú. Tôi cảm phục chú. Từ nay tôi coi chú là em, anh em ruột thịt sống chết có nhau.

    Mắt tôi nhòa đi vì nghĩa tình đồng đội đang phủ lên những vết thương của tôi một làn hơi nồng ấm áp và rất đỗi thiêng liêng. Chính giây phút đó trong đầu tôi lóe lên một quyết định: Phải vượt ngục để trở về với cách mạng để chiến đấu giải phóng dân tộc, giải phóng những người đồng chí đồng đội của mình hiện đang còn phải nằm trong nanh vuốt địch...
     
    1 person likes this.

Chia sẻ trang này