Sự tích núi Lang Bian, núi Voi và suối Đa Nhim

Thảo luận trong 'TƯ LIỆU ĐƠN DƯƠNG' bắt đầu bởi tandai, 28/10/2008.

  1. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Núi Lang Biang, xưa, chưa có tên, chưa có tuổi như bây giờ. Ngày nay, người già ở đây, thường kể :

    Thuở ấy, làng buôn Kon Đó, có một chàng trai con nhà nghèo, mồ côi cha, tên là Ha Biang. Và một cô gái xinh đẹp tên Ka Lang, con gia đình nọ, bố mẹ song toàn. Hai người lớn lên và yêu nhau.

    Một hôm, Ha Biang thưa với mẹ:

    - Mẹ ơi ! Con muốn "bắt" vợ để mẹ yên lòng...

    Lâu nay, mẹ Ha Biang cũng nghĩ như vậy, nên ưng ý ngay và lo đầy đủ mọi thứ cho lễ cưới con mình.

    Thế là Ha Biang và Ka Lang ở chung với nhau, yêu thương, hòa thuận.

    Bảy năm qua, lúa, bắp, heo, gà, dê, trâu,... chật sân, chật nhà, cuộc sống ấm no hạnh phúc.

    Sang năm thứ tám, Ka Lang vẫn không chịu đẻ con. Ông Trời cho mưa xuống. Rồi bốn năm liền hạn hán liên miên. Nước không có để uống, gạo không có để ăn. Thiếu cả lá rau, trái ớt... Biang đã buồn không có con, vì tuổi ruột mẹ cho đã hai chín cái rẫy rồi còn gì. Lại thêm cái hạn hán đốt cháy mùa màng. Bà con buôn làng ai cũng lo đói kém.

    Ha Biang tức lắm và thưa với các già làng :

    - Trời không mưa, ta chết! Không có nước, ta không sống được! Tôi phải đi kiện trời...

    - Cháu kiện trời được à? Sống gần trăm năm ở đây tôi chưa thấy ai dám kiện trời. Liệu cháu làm được việc ấy không? - Một già làng hỏi.

    - Làm được ! Cháu sẽ đi đến nơi, gặp Trời và kiện Trời! Các già làng vốn kiêng nể và sợ Trời, nay thấy Ha Biang nói phải đều gật gật cái đầu và một già làng khác hỏi:

    - Cháu kiện được Trời là trúng ý muốn của muôn người ở đây. Ôi! Mấy năm nay, không đủ trái ớt cay, không đủ lá rau nhíp ngọt... Cái bụng đã xót lắm rồi. Không có nước, sống sao được. Phải xin Trời cho mưa rơi.

    Mọi người đều cầu chúc cho Ha Biang mạnh cái tay, khỏe cái chân, giỏi cái đầu và nói những câu buộc trời phải thua.

    Sau bảy ngày, bàn với làng buôn, Biang nói với vợ:

    - Ka Lang à! Ha Biang phải đi kiện trời, vì trời quên chúng ta, không cho mưa thuận gió hòa, không cho nhà nhà ấm no... Trời! muôn loài đều căm giận!

    - Ha Biang đi mấy người ? Vợ hỏi.

    - Ha Biang đi một mình!

    - Ha Biang đi... Ka Lang sợ không đến trời. Đường xa đói khổ, con cọp, con heo rừng sẽ ăn mất Ha Biang!

    Ka Lang khóc thương và can ngăn, nhưng Ha Biang vẫn cả quyết ra đi.

    - Đã nói đi là đi! Và thương Ka Lang, thương làng Kon Đó, Ha Biang phải đi, kiện trời bằng được!

    Biết không còn cách nào giữ đôi chân Ha Biang được. Ka Lang đành im lặng và ôm Ha Biang không muốn rời ra nữa. Ha Biang xoa đầu vợ, âu yếm:

    - Thôi, ngày mai Ha Biang đi, đừng buồn Ka Lang!

    Hai người thức trắng đêm. Ka Lang nấu một nồi cơm thơm, lấy một Plơ (túi cói, cỡ nhỏ) gạo mới, một cái gùi và một con xà gạc hai đầu (weh sơ lbah) trao tay Ha Biang vừa lúc trời rạng sáng. Ha Biang nắm tay vợ, nói:

    - Ka Lang ở nhà, chăm sóc mẹ già khi đau ốm... Tiếng Ha Biang không nói lớn như mọi hôm... Tiếng Ha Biang chìm trong tiếng khóc của Ka Lang đưa tiễn... Ha Biang dặn vợ:

    - Ha Biang đi... nếu qua bảy ngày không thấy về Ka Lang hãy tìm đường theo tiếp gạo. Trên đường đi, cứ ba bước, Ha Biang sẽ bẻ một cây con làm dấu vết để Ka Lang dễ tìm... Ka Lang càng nức nở.

    - Chúc Ha Biang đi sớm trở về.

    Mặt trời đỏ rực đằng Đông. Đường lên trời giục chân Ha Biang bước.

    Ha Biang đi từ núi Kon Đó đến núi Găng Reo, bảy ngày đường rừng mệt mỏi. Càng lên cao càng khát nước. Sức kiệt, gạo không còn, sông suối, núi non hiểm trở, không mở lối cho Ha Biang đi... Ha Biang gục xuống và chết lưng chừng núi Găng Reo...

    Sang ngày thứ tám, nóng ruột, Ka Lang đeo gùi, xách gạo, giấu mẹ đi tìm Ha Biang.

    Ka Lang lần theo vết gãy cây con đến chỗ Ha Biang nằm chết và khóc thương thảm thiết. Tiếng khóc Ka Lang vang xa khắp tám núi, tám sông, tám rừng, tám suối... Tiếng khóc Ka Lang bay tới tận trời. Trời nghe, trời hỏi:

    - Tiếng khóc của ai? Ta nghe hoài không chịu nổi!

    - Tiếng khóc của Ka Lang thương chồng chết! - Một thần quan nói.

    - Chồng chết vì sao? Trời hỏi tiếp.

    - Vì đi kiện trời xin mưa! - Một thần quan khác nói.

    - Kiện ta à? Xin mưa à? Ôi! Ta vô tâm quá! Lâu nay ta vô tâm quá! Thần mưa đâu? Hãy cho mưa xuống! Bắp, lúa đang cần nước uống! Người đang cạn nước uống...

    Lệnh trời phán truyền... Thần mưa tung mưa xuống...

    Trong mưa, Ka Lang vẫn khóc, khóc dữ dội hơn, khóc mừng làng buôn có nước, khóc thương Ha Biang chết tội nghiệp giữa rừng. Tiếng khóc Ka Lang làm xúc động con voi đầu đàn. Con voi đầu đàn dẫn bước đến chỗ Ka Lang và che mưa cho Ka Lang và Ha Biang. Và sau bảy ngày Ka Lang chết.

    Thương Ka Lang và Ha Biang, con voi đầu đàn không nỡ bỏ đi, suốt ba tháng ròng đứng khóc và che mưa cho Ka Lang, Ha Biang rồi chết theo Ka Lang, Ha Biang.

    Sau ba tháng mưa tầm tã, nước mưa hòa cùng với nước mắt Ka Lang, nước mắt voi tưới mát khắp núi đồi, nương rẫy, làng buôn và chảy thành suối nước! Suối nước ấy được bà con buôn làng gọi là suối Đa Nhim (nước mắt), dẫn qua thác Liên Khàng (Liên Khương) rồi về sông lớn (Đạ Đờn - Đồng Nai).

    Nhờ vợ chồng Ka Lang, Ha Biang kiện trời, nên buôn làng mới có nước. Có nước là có tất cả, bắp, lúa, ớt, rau, trâu, gà, dê, vịt... Các già làng thương nhớ Ka Lang, Ha Biang và lấy tên Lang Biang đặt tên cho ngọn núi Kon Đó. Lấy tên Ông Voi đặt tên cho núi Găng Reo. Sự tích núi Lang Biang, Núi Voi và suối Đa Nhim là thế!

    Ông Liêng hót Ha Túy kể
    92 tuổi, dân tộc Chil
    Buôn Kon Đó, xã N'Thol Hạ, huyện Đức Trọng
    NGÔ TIẾN ANH ghi.

    Nguồn:
    DALAT Du lịch Lâm Đồng, 1986, Số 1
     
    4 people like this.
  2. otcaydalat

    otcaydalat New Member

    ớt rất có hứng thú với những món về lịch sử, văn học. cảm ơn tandai nha. hi vong có thêm nhiều những điều thú vị được tandai chia se với ớt và mọi người
     
    1 person likes this.

Chia sẻ trang này