Nghệ thuật câu đối

Thảo luận trong 'VĂN HỌC & NGHỆ THUẬT VIẾT' bắt đầu bởi Unlimited, 11/09/2008.

  1. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Tiếng Việt chúng ta rất phong phú và... tuyệt hay! Một trong những cách để khám phá và học hỏi kho tàng ngôn ngữ ấy là tìm hiểu:

    Nghệ thuật câu đối



    Chủ đề này được tạo ra để mời các bạn cùng dắt tay nhau bước chân vào kho tàng ấy.

    Luật viết bài đặt ra lúc đầu có lẽ hơi... đòi hỏi, nên bây giờ bỏ luôn, chỉ cần có thể viết bài với các nội dung:

    1. Giới thiệu câu đối;

    2. Thách đối;

    3. Ứng đối;

    4. Bình luận câu đối.


    Mong mọi người hưởng ứng.


    Do tandai đăng ngày 06/12/2006 lúc 09:35
     
  2. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Xin bắt đầu bằng câu đối sau:

    Nhà bác Năm Tuận (ba của Dương Đình Minh khoá Lạc Nghiệp 1996) ở Lạc Thiện (Dran) có một đôi liễn với cặp câu đối chữ Nho, nội dung là:


    Sinh thành nghĩa trọng càn khôn đại
    Cúc dục ân thâm nhật nguyệt trường



    Dịch nghĩa: nghĩa sinh thành lớn nặng tựa trời đất, ơn nuôi dạy sâu rộng như mặt trăng mặt trời

    Nghệ thuật đối: các cặp từ đối sinh thành : cúc dục, nghĩa trọng : ân thâm, càn khôn : nhật nguyệt, đại : trường vừa khớp về nghĩa, vừa chuẩn về "tầm", vừa hợp về thanh điệu bằng trắc (bằng đối trắc - trắc đối bằng). Bằng là thanh ngang và dấu huyền; trắc là các dấu sắc, hỏi, ngã, nặng.

    Đây quả là một đôi câu đối chỉn chu, toàn vẹn!


    Do tandai đăng ngày 06/12/2006 lúc 09:44
     
  3. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Bác tandai đưa cái "Luật viết bài" ra ghê thế, ai mà dám tham gia? Bác có thấy cái chủ đề này nó hẻo lắm không hả?

    Tui xin tham gia chút, nhưng không răm rắp lắm với mấy cái luật "rách" của bác đâu nhá:

    Đặng Trần Thường (1759-1813) là một viên quan thời Nguyễn, từng theo Nguyễn Ánh lập nhiều công trạng và được ân sủng. Ông ta có tài văn học. Thời Tây Sơn, lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Ngô Thì Nhậm thét bảo Thường:
    - Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác.

    Đặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi mang khăn gói vào Nam, phụng sự Nguyễn Phúc Ánh (Gia Long). Sau Quang Trung mất, Tây Sơn thất thế, Nguyễn Ánh lấy được ngôi báu, các công thần Tây Sơn đều bị bắt và sát hại.

    Với Ngô Thì Nhậm, Thường mỉa mai ra câu đối:


    Ai công hầu, ai khanh tướng, chốn trần ai, ai dễ hơn ai​



    Ngô Thì Nhậm khẳng khái hiên ngang đối lại:


    Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế​


    Thường giận, cho tẩm thuốc độc vào roi mà đánh Ngô Thì Nhậm đến chết.


    Do Đơn Nguyên đăng ngày 20/12/2006 lúc 17:22
     
  4. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Sự nghiệp của Đào Tấn(1845-1907)là sự nghiệp của một nhà hoạt động nghệ thuật kiệt xuất mà chốn quan trường thời nhiễu loạn không làm hoen ố được tấm lòng vằng vặc nỗi niềm ưu ái quốc dân. Trái tim ấy sản sinh các vở tuồng đầy nghĩa khí với các hình tượng Quan Công, Trương Phi, Hoàng Phi Hổ, Triệu Khánh Sanh, Lan Anh, Tiết Cương, Đổng Kim Lân .v.v. những nhân vật dõng dạc bước vào cõi “Lao xao sóng bủa ngọn tùng – Gian nan là nợ anh hùng phải vay”.(Nguyễn Thanh Mừng)

    Giai thoại về một câu đối của ông : vốn là người Quy Nhơn rất mê tuồng.Ra làm quan Quảng Ngải..Có người phá ông ghi trước cổng bốn chử "hát hay' và "học dở"..Lính hầu tính xóa ,ông bảo để đó và viết đối...

    Hát hay làm kép Quy nhơn thiệt
    Học dở làm quan Quảng ngải chơi



    Do xephaoma đăng ngày 20/12/2006 lúc 20:43
     
  5. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Tui nhớ có một câu chuyện như thế này:

    Ở hai làng gần nhau có hai người rất nổi tiếng đối hay, đối giỏi, nhưng khổ nỗi cả hai lại chưa từng biết mặt, chưa từng thử sức với nhau một lần nào. Một ngày nọ,cả hai quyết định lên đường qua làng bên để thử tài đối phương.

    Đi mãi, đi mãi mới đến được nơi giáp ranh giữa hai làng. Cả hai anh đều mệt quá nên ghé vào quán nước bên đường nghỉ mệt.

    Quán rất vắng, chỉ có hai người. Sau khi nghỉ ngơi, ăn uống xong, cả hai anh bắt đầu quan sát lẫn nhau. Càng nhìn càng nghĩ người kia chắc là đối thủ đang tìm. Phải thử mới biết được, và phải tìm cớ mới thử được.

    Một anh gắp miếng chả trên bàn, buột miệng:
    - Chả ngon!

    Anh kia lưỡng lự, không biết người kia muốn thử mình hay chỉ là câu nhận xét món ăn mà thôi. Trong lúc bối rối thời may có một con cóc ở đâu chui vô vách quan. Anh ta vội vã gắp miếng thức ăn trên bàn mình liệng ngay xuống chỗ con cóc và thốt lên:
    - Cóc sướng!

    Biết là kì phùng địch thủ nên hai anh kết tình bằng hữu.


    Do tien anh đăng ngày 07/01/2007 lúc 22:14
     
  6. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Có những câu đối chỉ hay khi được lồng vào một câu chuyện nào đó, nhưng cũng có những câu đối chỉ đứng riêng một mình đọc lên cũng đã thấy hay, thấy sâu sắc rồi.

    Giới thiệu với các bạn một số câu đối hay hay để lâu lâu đọc cho đỡ buồn.


    Nhất thụ mai hoa nhất thụ ngọc
    Bán sàng minh nguyệt bán sàng thư

    (Một cây hoa mai một cây ngọc, Nửa giường sách vở nửa giường trăng)



    Xuân phong xuân vũ xuân quang hảo
    Tân tuế tân niên tân sự đa

    (Gío xuân mưa xuân ánh xuân đẹp, năm mới tuổi mới nhiều chuyện hay)


    Phúc vô song chí
    Họa bất đơn hành

    (Phúc không bao giờ cùng đến, Họa lại chẳng bao giờ đến một mình-tương tự thành ngữ: Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí mà người Việt hay dùng)


    Do tien anh đăng ngày 10/01/2007 lúc 15:55
     
  7. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Đông đang qua, Xuân sắp đến, mời các bạn nhâm nhi một số câu đối của các cụ ngày xưa xem sao. Biết đâu các cụ gặp được người hậu sinh đồng cảm!


    Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết

    Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân


    (Nguyễn Khuyến)



    Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo

    Nhân tình trắng thế lại bôi vôi


    (Tú Xương)


    Nực cười thay : nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà Tết

    Thôi cũng được : rượu có, nem có, bánh chưng cũng có, thừa chơi


    (Tú Xương)


    Vui xuân, xuân cả một trời, có lẽ đâu đâu cũng vậy

    Người học, học cho hết sách, hay là thế thế thế mà thôi


    (Tú Xương)



    Do tien anh đăng ngày 11/01/2007 lúc 10:06
     
  8. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Vua Lê Thánh Tông còn là một nhà thơ hào tráng, chăm lo phát triển những giá trị văn hoá dân tộc. Là một người chăm lo đế nghiệp, ở xa trên cõi đế đô nhưng Lê Thánh Tông vào dịp lễ tết hay cải trang làm thường dân đi thăm phố phường, chợ búa, xuống nông thôn để hiểu nỗi niềm, cuộc sống của dân chúng.

    Có một lần nhà vua thăm một nhà dân không treo câu đối vào dịp tết Nguyên Đán vui tươi của dân tộc như các gia đình khác, Lê Thánh Tông đóng vai một người thường dân có biết chữ bèn hỏi:

    - Tại sao nhà nào trong dịp Tết cũng đều treo câu đối nói về nghề nghiệp của mình mà nhà ông lại không có?

    Chủ nhà ngại ngần một phút rồi buồn rầu đáp:

    - Thưa ông, chẳng dấu gì ông, tôi làm cái nghề hèn hạ quá nên không dám phô với thiên hạ ông ạ.

    Nhà vua hỏi lại, chủ nhà mới bộc bạch:

    - Thưa ông, nhà tôi làm nghề dùng cào chìa hốt phân bắc bán cho các nhà trồng rau ông ạ.

    Nhà vua cười vui vẻ:

    - Việc làm đó chẳng có gì hèn hạ cả mà nó còn giúp phát triển nông nghiệp trồng rau, trồng lúa xanh tốt. Ông nên chú ý ủ phân, đừng để phân tươi bốc mùi hôi thối cả vùng là được. Tôi xin tặng ông câu đối Tết nhé!

    Vua bảo lấy giấy hồng điều và bút nho rồi viết đôi câu đối sau:

    Ý nhất nhung y, năng đảm thế gian nan sự

    Đề tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm.​


    Tạm dịch như sau:

    Khoác một áo bào, đảm đương việc khó trong thế gian

    Cầu ba thước kiếm, tận thu lòng dạ của thiên hạ​


    Nhà vua ví chiếc áo lá tơi và cây cào chìa 3 răng của người dân như áo bào và thanh kiếm của người hảo hán. Ta thấy Lê Thánh Tông đánh giá cao vai trò của người nông dân và quý trọng mọi nghề, miễn là nghề đó phát triển sản xuất làm cho dân no ấm.

    Nhữ Nguyên [Bant tin ĐHQGHN số 167 (tháng 1/2005)]


    Do tien anh đăng ngày 29/01/2007 lúc 18:21
     
  9. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Mạc Đĩnh Chi là trạng nguyên của nước ta, nhưng khi sang sứ Tàu, vua Nguyên phục ông đối đáp thông tuệ, học vấn uyên thâm, đã phong ông làm trạng nguyên Trung Quốc.

    Có lần, muốn thử tài năng và khí tiết của vị Chánh sứ nước ta, vua Nguyên ra một vế đối bằng chữ Hán, dịch ra như sau:

    “Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy cung trăng”.

    Nghe xong, Mạc Đĩnh Chi biết vua Nguyên tỏ vẻ kiêu ngạo, xem mình là mặt trời và xem nước ta như mặt trăng, nên đã đối lại:

    “Trăng là cung, sao là đạn, tối đến bắn rơi mặt trời”.

    Thoạt đầu, vua Nguyên nổi giận, nhưng qua vế đối biết tài năng, khí tiết của sứ thần nước ta không phải là vừa, nên đem lòng nể trọng, chuyển giận làm vui và sai lấy vàng lụa, rượu ngon thưởng cho trạng Việt Nam.

    Có lần Mạc Đĩnh Chi sang sứ đúng vào dịp người Hậu phi của vua Nguyên mất. Lúc làm tế lễ, người Nguyên đưa cho Chánh sứ nước ta bài điếu văn viết sẵn, bảo đọc. Khi Mạc Đĩnh Chi mở giấy ra thì chỉ thấy viết có bốn chữ “Nhất” (là một). Ông chẳng hề lúng túng, vừa nghĩ vừa đọc thành bài điếu văn rất hay, đầy cảm động như sau:

    “Thanh thiên nhất đoá văn

    Hồng lô nhất điểm tuyết

    Ngọc uyển nhất chi hoa

    Dao trì nhất phiến nguyệt

    Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!”


    Nghĩa là:

    “Một đám mây giữa trời xanh

    Một bông tuyết trong lò lửa

    Một bông hoa giữa vườn thượng uyển

    Một vầng trăng trên mặt nước hồ

    Ôi! mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!”.


    Vậy là chỉ có bốn chữ “Nhất” mà trạng nước ta đã đọc thành một bài văn điếu tuyệt hay, khiến cho cả triều thần phương Bắc phải bái phục.


    Do tien anh đăng ngày 29/01/2007 lúc 18:27
     
  10. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Mạc Đĩnh Chi cùng với sứ thần một số nước ra mắt vua Nguyên. Nhân có nước nào đó dâng chiếc quạt, vua Nguyên bắt sứ thần nước ta và sứ thần Triều Tiên đề thơ. Giữa lúc Mạc Đĩnh Chi còn tìm tứ thơ, thì sứ Triều Tiên đã viết liến thoắng. Ông nhìn theo quản bút đọc thấy sứ Triều Tiên viết hai câu chữ Hán, dịch nghĩa như sau:

    “Nóng nực oi ả, thì như Y Doãn, Chu Công (là những người được vua trọng dụng).

    Rét buốt lạnh lùng, thì như Bá Di, Thúc Tề” (là những người bị ruồng bỏ).

    Với sự nhanh trí kì lạ, Mạc Đĩnh Chi liền phát triển hai câu thơ trên thành một bài xuất sắc, mô tả chiếc quạt:

    “Chảy vàng, tan đá, trời đất là lò lửa, thì lúc ấy ngươi (chỉ chiếc quạt) như Y Doãn, Chu Công là những bậc cự nho (người tài giỏi).

    Gió bấc lạnh lùng, mưa tuyết đầy đường, lúc ấy người như Bá Di, Thúc Tề là những ông già chết đói.

    Ôi! Dũng thì thành đạt, bỏ thì xếp xó. Chỉ có ta và người là như thế chăng?”.


    Bài của Mạc Đĩnh Chi làm xong trước, ý sắc sảo, văn lại hay, nên vua Nguyên xem xong cứ gật gù khen mãi. Nhân dân ta ngưỡng mộ, tôn xưng ông là: “Lưỡng quốc trạng nguyên” (trạng nguyên hai nước).


    Do tien anh đăng ngày 29/01/2007 lúc 18:28
     
  11. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Đối liên có lịch sử ra đời cách đây khoảng 3000 năm, nhưng theo Tống sử Thục thế gia, câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Manh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959

    Phiên âm:
    Tân niên nạp dư khánh
    Gia tiết hiệu trường xuân

    Dịch thơ:
    Năm mới thừa chuyện vui
    Tiết đẹp xuân còn mãi ​


    Do ntsc đăng ngày 29/01/2007 lúc 23:02
     
  12. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Câu đối trào phúng: là những câu làm để chế diễu, châm chích một người nào đó.

    Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.
    Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi


    (Câu đối tặng một người chột mắt mới đỗ khoa thi võ)


    Do ntsc đăng ngày 29/01/2007 lúc 23:06
     
  13. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Câu đối tập cú: là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục ngữ ,ca dao.

    Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay không ngõng.
    Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi




    Do ntsc đăng ngày 29/01/2007 lúc 23:08
     
  14. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Câu đối thách (đối hay đố): người ta còn nghĩ ra những câu đối oái ăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc thách người khác đối. Lối đối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm dị nghĩa...

    Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến già
    Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng kềnh cổ lại

    (Câu đối có bốn chữ : cóc cách cọc cạch đối với bốn chữ công kênh cồng kềnh)


    Do ntsc đăng ngày 29/01/2007 lúc 23:10
     
  15. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Có những vế câu đối rất khó đối như:

    * Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử.
    Vế này khó đối vì hồi hương (cũng có nghĩa "về quê") và phụ tử (cũng có nghĩa "cha con") đồng thời lại là tên gọi các vị thuốc. ​

    * Vào vụ đông trường nam bón phân bắc trồng khoai tây, Sang xuân hạ quyết tâm thu hàng tấn củ.
    Vế này cũng khó đối vì đông, tây, nam, bắc (chỉ hướng địa lý) và xuân, hạ, thu, đông (chỉ các mùa ở Việt Nam) ​

    * Da trắng vỗ bì bạch
    Vế đối này của Đoàn Thị Điểm, hiện nay, có khá nhiều người đối nhưng chưa chỉnh, câu đối đã được đăng ở quyển Thế giới mới được coi là tạm ổn nhất.​

    Câu này là "Tay sơ sờ tí ti" có thể coi là được chăng,câu này có trong "Thế giới mới" Tí cũng là tay, tí ti là một chút xíu, cũng là một từ láy âm tay sơ là tay còn trong sạch, nguyên vẹn. Xin đóng góp thêm một câu đối về câu: "da trắng vỗ bì bạch" "rừng sâu mưa lâm thâm" Cát Bụi.



    Do ntsc đăng ngày 29/01/2007 lúc 23:13
     
  16. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Đoàn Thị Điểm có lần gặp Trạng Nguyễn và hai người cùng đi tìm đường đến phố Mía (phố chuyên kéo mía làm mật ,đường). Trên đường đi, bà đã phải hỏi đường một cô hàng mật. Gần đến nơi, bà ra vế đối:

    Lên phố Mía, gặp cô hàng mật. Cầm tay kẹo lại, hỏi thăm đường.

    Trạng Nguyễn không đối lại được đành cúi đầu bái biệt.


    Do ntsc đăng ngày 29/01/2007 lúc 23:20
     
  17. Unlimited

    Unlimited Ong lãng du

    Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới...

    Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa khả phong giai tị ốc.
    Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm

    (Nguyễn Khuyến, viết mừng một chánh tổng trước bị cách chức, sau được phục sự và làm nhà mới.)


    Do ntsc đăng ngày 29/01/2007 lúc 23:24
     
  18. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    Cụ Nguyễn Đình Chiểu khi bị mù cả hai mắt- Chỉ đón nhận không khí Tết cổ truyền qua cảm giác:
    Đêm ba mươi, nghe pháo nổ, ờ ờ Tết
    Sáng mồng một, vấp cây nêu, à à Xuân.
     

Chia sẻ trang này