Nấc Thang Cuộc Đời

Thảo luận trong 'THÔNG ĐIỆP CUỘC SỐNG' bắt đầu bởi boobyeyes, 12/08/2008.

  1. boobyeyes

    boobyeyes Ong Nghệ

    So Bì

    Người và người cứ mãi so đo rồi sanh tâm phẫn nộ, tức tối.
    "Nhân vô thập toàn mà!" Chúng ta không nên cùng người so bì, bởi vì cuộc sống thế gian này tất cả đều là tương đối, mỗi người đều có cái sở đoản, sở trường riêng của mình, có ưu, có khuyêt, không ai là không toàn diện cả. Người mù cớ sao cười người câm; người câm cớ sao cười người điếc; rồi người điếc tại sao lại đi cười người đui... Nếu trong nhà tắt lửa tối đèn, ba người hợp lại chẳng phải là bảo đảm an toàn tánh mạng sao?
    Cuộc sống thế gian có biết bao hiện tượng chỉ do so bì mà khiến cho tâm con người thất điên bát đảo: người cỡi xe đạp nhìn thấy người cỡi xe mô-tô, khởi tâm so bì mặc cảm, thế rồi tìm mọi cách mua bằng được một chiếc mô-tô với mã lực mạnh hơn người kia. Nhưng khi người kia đổi mô-tô, mua xe hơi đời mới. Thế rồi không lâu, người kia lại đổi mua xe hơi khác moden hào nhoáng hơn. Lúc đó anh chàng này mới hồi tâm tỉnh ngộ thở dài than rằng: So lại so đi, chỉ là tăng thêm vô hạn lòng dục vọng, không những không đem lại một chút lợi lạc mà còn gây tạo biết bao là phiền tóai khổ não.
    Có người ở nhà tranh, nhìn thấy người bên cạnh cất nhà ngói, lòng dấy lên dục vọng, mình cũng cất nhà ngói; thế rồi nhìn thấy người khác xây cao lầu, lòng dục vọng lại dấy động mình cũng phải xây cao lầu như người nọ. Nhà nọ không ngừng phấn đấu và đã đạt được như ý, phòng nhà mấy căn đã xây xong; thế nhưng ở không bao lâu, cảm thấy mỗi ngày phải bận rộn quét dọn, sắp xếp...chẳng khác nào làm kẻ đầy tớ cho cao lầu, thật mệt mỏi.
    Lại nữa, có nhà văn học nọ sau khi nhìn nhà triết học, tự thấy tướng văn của mình sao mà vụng dại đần độn không bằng người, vì cho rằng kiến giải từ triết lý văn nghĩa nội hàm của nhà triết học cao sâu, súc tích, rõ ràng hơn mình. Còn nhà triết học nhìn thấy sự phát triển của nền văn minh khoa học kỹ thuật ngày nay, lại cho rằng triết học gia như mình chỉ là luận giải suông triết lý, không thiết dụng kịp thời với đời sống xã hội phát đạt khoa kỹ ngày nay. Nhà khoa học gia ngày ngày vùi đầu giam thân trong phòng thực nghiệm, lại tận lòng hâm mộ cuộc sống điền viên, khát khao mình có được một cuộc sống thú nhàn hương quê.
    Nham thạch không cần phải đem so bì với các tảng đá cẩm, đá vôi; hoa cỏ cũng không nên cùng tùng bách so bì cao thấp; khe suối càng không nên cùng hải dương tranh chấp rộng lớn; hàng bình dân cũng đừng nên cùng nhân vật chính trị so bì quyền lực, bởi vì mỗi một nhân vật, mỗi sự vật đều có vị trí, tính chất mỗi chức năng riêng của nó; và mỗi một hiện tượng đều có mặt tốt, mặt xấu, có được, chỗ mất của riêng nó; do vậy, cái tinh mỹ của nham thạch, hương thơm của hoa cỏ, róc rách của khe suối, sự thanh nhàn của người bình dân.... đều không phải là ở chỗ đá to, tùng cao, hải dương rộng, chính trị quyền lực đáng so bì.
    Thế nên chúng ta không nên lấy sự so đo bì lượng lẫn nhau làm mạch sống. Cô nàng kia mặc dù đẹp hơn mình; song xin chớ cao mạn, mà hãy nên cẩn trọng quán tưởng đến người xưa thường nói: " Hồng nhan da bạc mệnh". Anh ta mặc dù có địa vị giàu sang phú quý hơn mình, nhưng biết bao người đã chết vì tiền tài, đã điêu đứng vì danh vọng, vì vậy bậc cổ đức thường hay nói " thuyền to thì sóng cả", "càng cao danh vọng càng nhiều gian nan" là vậy. Anh ta con cháu đông, bổng lộc lại phong hậu hơn mình, thế nhưng anh ta ngày ngày không ít phiền não trầm nịch quấy nhiễu.
    Từ đó suy ra lời người xưa kinh nghiệm: "Người ta cỡi ngựa, tôi cỡi lừa; xem ra trước mắt dường như mình thua kém, nhưng ngoái lại đầu, thì quả là mình vẫn có chỗ hơn người". Do vậy chúng ta không nên đem cái vốn có ngoại tướng thế gian để so bì, mà nên đối diện so bì với chính mình về tâm đạo đức, tâm từ bi, tâm khoan dung, tâm rộng kết nhân duyên bồ đề quyến thuộc....Đó mới là giá trị chính đáng để chúng ta so bì.

    Trích Nấc Thang Cuộc Đời

    Ngày đăng 01/03/2007
     
  2. boobyeyes

    boobyeyes Ong Nghệ

    Những khoảng lặng cuộc sống !

    Cuộc sống luôn chứa đựng cả niềm vui và nỗi buồn, biết bao sự kiện, biến cố và cả những điều rất bình dị luôn diễn ra, có lúc làm chúng ta ngập tràn niềm vui và hy vọng, có lúc lại nặng trĩu lo âu, thất vọng...

    Nhưng cho dù cuộc sống có diễn ra như thế nào đi nữa, thì bạn luôn nhận ra một điều : "Đằng sau tất cả những gì đã và đang xảy ra đều ẩn chứa một ý nghĩa nào đó để chúng ta suy ngẫm, trải nghiệm và cảm nhận".

    Những giọt nước mắt đâu chỉ là biểu hiện của sự khổ đau, mà đó cũng có thể là niềm hạnh phúc, mừng vui! Đôi khi, trong những phút giây khổ đau tuyệt vọng, chúng ta mới phát hiện ra được những điều tốt đẹp và quý giá cho cuộc sống của mình.

    Cuộc sống có nhiều cung bậc và cách nhìn nhận khác nhau, đôi lúc chúng ta cần dành những khoảng lặng để nhỉn lại, cùng chia sẽ, suy ngẫm và nhận ra những điều mà trước đây có thể chúng ta chưa nhìn thấy hoặc vô tình bỏ qua.
    - First News -

    Ngày đăng 02/03/07
    Người đăng tonybui
     
  3. boobyeyes

    boobyeyes Ong Nghệ

    “Đại ca” vào chùa

    Lúc đầu gặp sư Minh Đức, Hữu, một cựu "đại ca" ở Đà Lạt, nghĩ mình chỉ nên là một tiểu thừa làm công quả. Sư Minh Đức nói rằng, nếu lòng đã quyết thì con có thể xuất gia, nếu chưa thì tùy con chọn lựa... Hữu đã xuất gia từ thời điểm ấy.


    Có người cho rằng cuộc đời của Tỳ kheo Chơn Hữu (chùa Định Quang, Thừa Thiên - Huế) như dẫn chứng một cách trực tiếp và chính xác cho câu tục ngữ: "Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy", nhưng tôi không nghĩ thế. Và ngay cả anh cũng chỉ đơn giản rằng, một thời gió bụi dù đã xếp yên ở quá khứ, nhưng đôi khi nghĩ lại vẫn thấy kinh sợ.

    Cậu học trò giỏi văn và máu “yêng hùng nhí”...

    Thời học phổ thông, cậu học trò Huỳnh Thiện Hữu mê văn lắm. Suốt quãng thời gian học cấp I, Hữu thường xuyên có mặt trong các kỳ thi học sinh giỏi văn thành phố Đà Lạt. Nhưng những năm cuối cấp II, những trang văn cứ thưa dần, thay vào đó là những trò quậy phá của một cậu bé mới lớn thích xưng anh, xưng chị với đám bạn cùng trường.

    Hữu cùng những “yêng hùng nhí” tập trung thành một hội quậy phá trong trường và rất hài lòng với việc đó. Rồi đánh nhau, rồi bỏ học... Dù một năm không biết mấy chục lần mẹ phải đi “họp phụ huynh”, dù những trận đòn thập tử nhất sinh của người cha nhưng không thể ngăn nổi cái bản tính ngang ngạnh của Hữu.

    Học dở cấp III thì Hữu bỏ học bắt đầu kiếp giang hồ, ấy là vào năm 1987 khi Hữu tròn 16 tuổi. Hữu trở thành thành viên của băng “Ánh sáng”, một băng chuyên “làm luật rừng” ở các vũ trường và tổ chức những lần đua xe quên đời ở Đà Lạt. Băng này chừng 20 đến 30 người, là những thanh niên có chút võ nghệ cộng với máu liều.

    Thời gian này, Hữu và đồng bọn của mình thường đến các vũ trường chơi bời và đánh gục những kẻ nào dám “qua mặt”. Sau những cuộc ẩu đả là sự “lên ngôi” để từ đó có thể “giải quyết những mắc mớ nếu ai đó cần đến”.

    Hồi đó, địa bàn hoạt động chính của “Ánh sáng” là vũ trường Minh Tâm, vũ trường Hải Sơn với những chức năng chính như bảo kê và đánh mướn.

    Trong đó, một công việc thường làm của Hữu là “bênh vực” những cô vũ nữ khi họ cần. Lúc này, vũ nữ nhảy múa tại các vũ trường vẫn đang là lén lút. Biết điểm yếu đó, nhiều cánh mày râu sức dài vai rộng nảy ý định tống tiền. “Ánh sáng” đã giải quyết được khá nhiều vụ như vậy và cũng đã kiếm được “lợi nhuận” không nhỏ từ sự hậu tạ.

    “Những lần ấy, băng chúng tôi có được một số tiền kha khá để ăn chơi. Nhưng đôi khi tôi sợ sự lạnh lùng của một số đồng bọn. Họ sát phạt đối phương một cách không thương tiếc” - Chơn Hữu nói.

    Trên tay anh vẫn còn vết thương của lần anh đỡ đòn cứu đối thủ trước sự “lạnh” ấy. Một lần, có cô vũ nữ bị chồng cũ từ TP HCM lên dọa nếu không đưa tiền sẽ “thanh toán êm đẹp”. Và gã chồng đó đã thuê nhóm giang hồ ở quận 4 lên tận Đà Lạt để “hỏi han” người vợ cũ.

    Khi tới nơi, cánh giang hồ Đà Lạt đã chuẩn bị tinh thần “nghênh chiến”. Kết quả là “đội khách” thất bại thảm hại. Kẻ cầm đầu bị một đồng bọn của Hữu chém tới tấp. “Tôi đã hứng cho đối phương nhát chém cuối cùng. Bởi tôi biết, nếu tôi không làm vậy thì người kia đã mất mạng”.

    Những đêm trăng ở cánh rừng Tà In của kẻ bị mẹ “từ”

    Đời Hữu cứ thế, những cuộc chơi và những cơn say. Ngoài thời gian quậy ở vũ trường, Hữu thường tổ chức đua xe. Hữu có chiếc 67 từng được mệnh danh là “hung thần đường đua” ở Đà Lạt và thường thuê người kiếm tiền bằng những cuộc đua tốc độ tử thần. Chiếc xe ấy chưa một lần thất bại và đã mang về cho Hữu những khoản “thu nhập” lớn.


    Tác phẩm ảnh tâm đắc nhất của nhà sư Chơn Hữu


    Ở ngoài, Hữu là một “đại ca”, nhưng khi về nhà, anh chưa từng dám cãi mẹ. Có những hôm về muộn, Hữu chỉ đi khe khẽ không để mẹ thức giấc. Bố mất vì tai nạn, một mình mẹ nuôi mấy anh em Hữu ăn học.

    Đôi khi Hữu vẫn lờ mờ nghĩ tại sao các em mình chăm chỉ học hành thế, còn mình anh cả lại chẳng ra gì, nhưng rồi những cám dỗ vẫn che khuất câu trả lời. Mẹ đã từng khuyên ngăn Hữu nhiều nhưng những cuộc chơi không thể dừng lại. Chỉ còn một cách mà mẹ có thể làm với Hữu: từ con!

    Hữu ra khỏi nhà cũng là lúc tách khỏi băng “Ánh sáng” để lập một băng mới, kéo nhau lên bãi vàng Tà In để hoạt động. Giữa chốn rừng sâu núi thẳm ấy, băng của Hữu đã thể hiện “đẳng cấp” ngay từ đầu để kiếm những chỗ đất “màu mỡ” có thể mang lại nhiều thỏi vàng như ý. Cũng từ đấy, Hữu không về nhà nữa.

    Câu chuyện của Chơn Hữu trong 4 năm ở Tà In (1990-1993) không có nhiều đánh đấm và vết máu. Anh tới khu rừng này ngoài máu liều sẵn có của một kẻ giang hồ, bên tay còn chiếc máy ảnh. Những lúc rảnh rỗi, Hữu thường vác máy đi chụp dạo

    Có khi nổi hứng, Hữu xách máy ảnh về Đà Lạt chụp thuê cho khách du lịch dù số tiền kiếm được không nhiều như đi đãi vàng. Những ngày tháng ấy, Hữu chán dần cảnh sống giang hồ nhưng không biết làm sao để thoát khỏi nó.

    Và những đêm trăng rất sáng, gần 20 kẻ giang hồ dắt nhau lên sườn đồi nằm ngắm trăng. Hữu nói với mọi người: “ đi học một cái nghề như sửa xe máy, sửa vô tuyến... Chúng ta vẫn còn sức khỏe...” thì gặp nhiều sự phản ứng khác nhau.

    Có người khao khát về lại, nhưng có kẻ lại lý sự rằng, cuộc đời có được bao lâu. Biết bao đêm trăng như vậy với những câu chuyện không đầu không cuối, và những thành viên trong nhóm làm vàng “quy hàng số phận” dần để trở về với cuộc sống giản dị nhưng lương thiện...

    Sau 3 năm ở rừng, Hữu bị sốt rét nặng. Suốt 3 ngày nằm mê man, anh được những “đồng sự” trong nhóm đưa về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng. Trong cơn mê sảng, anh mơ thấy mẹ đi chùa cầu phúc cho anh, tay mẹ lần từng viên tràng hạt. Anh choàng tỉnh.

    Ngay bên cạnh, mẹ ngồi đấy, lặng lẽ quạt cho Hữu. Phía trên tủ thuốc là một tô cháo để sẵn. Khi Hữu mở mắt, mẹ chỉ nói: "Con ăn cháo cho chóng khỏe”. Thực ra, nói là “từ con” nhưng mẹ vẫn theo dõi từng đường đi nước bước của Hữu.

    Không có thứ bụi nào khó rũ...

    “Tại sao tôi đi tu? Đã có lúc tôi hỏi mình đâu là lý do chính. Có người hỏi tôi rằng rũ những thứ bụi dày đặc trong tôi để vào chốn tu hành có quá khó không, tôi chỉ nói rằng không có thứ bụi nào khó rũ. Vấn đề là mình nhận thức về con đường để đi như thế nào”.

    Chơn Hữu nói và bắt đầu câu chuyện từ số phận hai người bạn thân của anh, là hai “đại ca” với hai kết cục quá bi thảm.

    Người thứ nhất là Tuấn, tay giang hồ đẹp trai hiếm thấy ở thành phố sương mù. Tuấn quen anh và chơi với anh từ một cuộc thanh trừng lẫn nhau. Một lần đụng độ, Hữu suýt bị Tuấn cho về... bên kia thế giới.

    Trong lần ấy, “số” của Hữu đã bị lùi so với Tuấn (ở Đà Lạt, “đại ca” này hạ được “đại ca” kia là đã được nâng lên một “đẳng cấp”, hay còn gọi là “số”). Nhưng với máu hiếu thắng của một kẻ vốn hiếu thắng từ nhỏ, Hữu quyết định phục thù và anh đã trả thù được, vào một tối sau khi rời vũ trường. Với tham vọng ban đầu là giành lại những gì đã mất, không ngờ, sau cuộc thanh trừng thứ hai, Tuấn đã rất phục và coi Hữu như anh em.

    Khi bắt tay với nhau rồi, Hữu thấy Tuấn là một người bạn rất trung thành, hết lòng vì bạn. Có nhiều phi vụ cần “giải quyết”, họ cùng hợp sức. Có đồ vật gì Tuấn quý, nếu Hữu thích, Tuấn tặng cho bằng được.

    Nhưng có một điểm hai người không gặp được nhau, là Tuấn thì lạnh lùng đến mức tàn nhẫn, còn Hữu vẫn còn chút lương tâm trong những lần triệt hạ đối phương. Vết sẹo Hữu còn mang đến hôm nay khi đỡ cho tay giang hồ quận 4 vừa nhắc ở trên, tác giả chính là Tuấn.

    Nhà Tuấn có 3 anh em trai đều là những người có gương mặt đẹp như vẽ, và cũng đều là những bậc giang hồ. Bố mất sớm, một mình mẹ Tuấn lao đao lo chuyện áo cơm cho các con.

    Vì không chịu nghèo, Tuấn đã sa chân vào chốn giang hồ và tìm cách “vươn lên” bằng những lần đâm chém. Điều đó, Tuấn đã làm được, và cũng từ đó Tuấn càng lạnh lùng và ngang ngược.

    Một lần, Tuấn cãi cọ với em mình rồi đánh em một cách vô lý. Người em, vì sĩ diện của một kẻ giang hồ, đã tự giải quyết mối hận với anh bằng cách uống thuốc độc tự tử. Bị dày vò lương tâm về cái chết của em, Tuấn đã tìm đến với chai thuốc.

    Người em trai thứ ba thấy hai anh thê thảm vậy, không đủ bản lĩnh để sống nữa. Chôn cất xong 3 người con, mẹ Tuấn tìm đến cái kết cục như ba người con xấu số...

    Từ thảm cảnh ấy, Hữu nghĩ đến mẹ mình rồi anh khóc như một đứa trẻ. Rồi anh tạm xa dần cuộc sống giang hồ để đi làm nghề chụp ảnh và hướng dẫn khách du lịch. Nhưng ở đó, vẫn lại là một thứ giang hồ khác, buộc phải tồn tại khi mỗi người muốn kiếm tiền cũng đành phải xưng hùng xưng bá ở địa bàn hành nghề của mình.

    Người bạn thứ hai là Duy, một công tử con nhà giàu, nổi tiếng vì liều lĩnh nhưng cũng nổi tiếng vì chơi đẹp trong giới giang hồ Đà Lạt. Duy nổi tiếng như cồn về vụ một mình một cây mã tấu đã hạ gọn một băng nhóm với “số” khá cao chỉ vì dám đụng đến mấy “đệ” của anh ta.

    Từ đó, Duy quy tụ khá đông những đám thanh niên choai choai có máu liều lĩnh để tập trung quyền lực của mình. Duy và Hữu gặp nhau ở sự “chơi đẹp” cộng với chất liều lĩnh.

    Nhưng Duy càng ngày càng chứng tỏ máu chơi của mình ở mọi phương diện. “Đại ca” đình đám này, đã phải mang trong mình mầm bệnh vô phương cứu chữa - AIDS.

    Qua cái bi đát trong số phận của hai người bạn, Hữu chán chường và quyết vác máy ảnh đi lang thang, rồi về Huế, quê hương của anh để giải tỏa những căng thẳng, bế tắc.

    Năm đó, năm 1999, khi anh về cũng là lúc cả thành phố cổ tang thương trong “cơn đại hồng thủy”, anh càng thấm thía nhiều hơn về sự sống, cái chết và những nỗi khổ giữa cuộc đời. Anh tính quay trở lại Đà Lạt để chụp ảnh và làm hướng dẫn viên một cách lương thiện, nhưng anh đã đi quá xa những gì mình nghĩ.

    Đọc sách báo, anh biết có một ngôi chùa khá thi vị, đó là Huyền Không Sơn I thượng do sư Minh Đức trụ trì. Đây là một ngôi chùa khá yên tĩnh, vắng vẻ nằm trên một ngọn núi thuộc huyện Hương Trà.

    Một ngôi chùa từng được biết đến như một Trung tâm triển lãm thư pháp Hán và Quốc ngữ; triển lãm tranh, ảnh nghệ thuật và là nơi để giới văn nghệ Huế đàm đạo văn thơ. Ngôi chùa này, cũng có rất nhiều người đến đây làm lại cuộc đời như có gã họa sĩ từ Hà Nội vào đi tu để cai nghiện.

    Hữu như nhận ra con đường của mình. Chỉ có một cách duy nhất, là phải rũ bằng hết những thứ bụi bặm của bao tháng năm chốn giang hồ vấy bẩn, đó là vào chùa. Phải, chỉ có vào chùa!

    Vị sư yêu cái đẹp

    Lúc đầu gặp sư Minh Đức, Hữu chỉ nghĩ rằng mình chỉ nên là một tiểu thừa làm công quả, nếu có duyên tu thì theo đường tu, không thì chọn một con đường khác. Sư Minh Đức nói rằng, nếu lòng đã quyết thì con có thể xuất gia, nếu chưa thì tùy con chọn lựa... Hữu đã xuất gia từ thời điểm ấy.

    Vào chùa, anh thấy mình như được trở về với thời thơ ấu trong trẻo. Tất cả mọi sự tĩnh lặng, những tiếng gõ mõ hằng đêm gợi trong anh hình ảnh mẹ, vì mẹ anh cũng là một phật tử. Khi anh đi tu, mẹ không hề biết, đến khi nhận được thư anh mẹ mới hay. Trong lễ thọ giới, mẹ có ra chùa. Mẹ ngồi để anh lạy ba lạy báo hiếu. Khi ngước mắt nhìn lên, nước mắt mẹ đã lăn dài trên khuôn mặt lặng im như một pho tượng. Vậy là mọi thứ đã an bài.

    Những hình xăm chi chít trên cơ thể, anh đã phá bằng tia lade, đến bây giờ vẫn còn những vết sẹo lớn. Trong các hình xăm ấy, anh chỉ giữ lại hình một cành hoa hồng ở phía vai bên trái, để nói rằng, cái đẹp vẫn luôn hiện hữu trong anh dù số phận có thăng trầm ra sao. Kinh sợ là thế, và thú vị là thế - những dấu vết một thời...

    Gần hai năm sau, Hữu về thăm nhà với tấm áo vàng nhà Phật, tên gọi cũng không còn là Huỳnh Thiện Hữu nữa mà là sư Chơn Hữu. Thực ra, anh về còn vì một lý do nữa, là Duy, người bạn giang hồ năm trước muốn gặp anh một lần cuối cùng.

    Hồi anh ở chùa, Duy có ra thăm trong một trạng thái mệt mỏi chán chường và nỗi căm giận muốn trả thù đời. Anh đã dùng giáo lý nhà phật khuyên răn, Duy đã nghe và sống rất thanh thản với phần đời còn lại. Hôm anh đến, Duy đã không còn hình ảnh của một tay chơi năm nào mà chỉ như một bộ xương nằm dính chiếu.

    Chơn Hữu tặng Duy một pho tượng nhỏ, anh ta cung kính nhận và đặt lên đầu. Sau đó, Duy đồng ý để Chơn Hữu truyền tam quy và ngũ giới để thành một phật tử rồi giảng cho Duy một thời pháp ngắn về ý nghĩa Tam Bảo.

    Chia tay, Duy cười rất bình an. Một thời gian sau, Duy đã thanh thản ra đi, trên tay vẫn cầm pho tượng Phật.

    Khi tu hành, Chơn Hữu bắt đầu dành thời gian để làm thơ, viết văn như để đi tiếp con đường của cậu học trò mê văn Trường Quang Trung thuở nào. Anh còn trồng phong lan, và hiện ngôi chùa Định Quang như một “bảo tàng” lan rừng với hơn nghìn khóm. Anh cũng dốc lòng cho những bức ảnh nghệ thuật.

    Những khi rỗi, người ta thường thấy có một vị sư áo vàng cầm máy ảnh đi sáng tác. Anh đã đứng trên những đỉnh thác để chụp lại những khoảnh khắc hung dữ của con nước, đã ngả mình sát mặt nước để chụp ảnh những bông sen mùa hạ một cách mạo hiểm. Anh nói, ra từ chốn giang hồ, anh giữ lại cái bản lĩnh để sáng tạo nghệ thuật...

    Hiện ở Huế, Chơn Hữu là một trong những gương mặt hiếm hoi chụp ảnh nghệ thuật rất đẹp. Anh đã có một số cuộc triển lãm ảnh cá nhân được đánh giá rất cao.

    Bức ảnh mà anh tâm đắc nhất trong một thời gian dài cầm máy của mình là hình ảnh một vị sư đang rửa chân bên hồ, cạnh những bông hoa súng ngoi lên từ bùn đất như rũ bỏ hết những bụi bặm của cuộc đời mà không phải ai cũng dễ dàng rũ bỏ được...


    Ngày đăng 21/04/07
    Người đăng sutuphichau_69
     
  4. boobyeyes

    boobyeyes Ong Nghệ

    Hiếu Thuận Cần Kịp Thời


    Có một chú ếch con luôn luôn đối nghịch ý mẹ; khi ếch mẹ bảo nó hướng về phía đông đi thì nó lại hướng về phía tây đi. Rồi khi ếch mẹ bảo nó hướng về tây đi thì nó lại khăng khăng hướng về hướng đông đi. Thế rồi một ngày nọ ếch mẹ lâm trọng bệnh, biết mình sặp phải từ giả cõi đời. Ếch mẹ mong muốn sau khi chết thân xác mìn được chôn trên đất núi, ếch mẹ không muốn nằm nơi đất sình lầy ẩm ướt. Biết ếch con luôn luôn đối nghịch với ý mình, nên ếch mẹ trước khi nhắm mắt lìa đời liền kêu ếch con lại trăn trối: "Sau khi mẹ qua đời, mong con đem xác mẹ chôn bên ven ao hồ." Chú ếch con này ngày thường luôn luôn làm trái nghịch ý mẹ; đột nhiên hôm nay nhìn thấy mẹ qua đời, ếch con đau buồn, lòng ray rứt hối hận. Thương nhớ lời mẹ trăn trối, lòng hiếu thuận sanh khởi, ếch con đem xác mẹ chôn ven bờ sông cạnh đó. Ngày ngày khi hoàng hôn buông màn, ếch con lòng hồi họp lo sợ xác mẹ bị nước cuốn trôi mất, liền đến bờ sông than khóc gọi mẹ. Khi cha mẹ còn sống ở đời, không vâng thuận theo người chỉ giáo, rồi khi người đã nhắm mắt lìa đời, đi về thế giới khác thì lại ôm lòng ray rứt thương tiếc nhớ nhung, muốn làm việc hiếu thuận để báo đáp thâm ân thì ôi thôi đã muộn rồi; cho dù có đau buồn ngày ngày đến bên mộ mẹ than khóc như ếch con cũng không kịp nữa rồi!
    Xã hội ngày nay, ngày càng không chú trọng đến luân lý hiếu đạo nữa, nhất là vấn đề niên đại tuổi tác tư tưởng sai khác các thế hệ dẫn đến <mối quan hệ thân tử> của người hiện đại ngày càng đơn điệu, lạnh nhạt; thậm chí xa rời luân thường đạo lý. Sự kiện này phơi bày rất rỏ. Khi đến bệnh viện bạn hãy để mắt quan sát xem, sự chênh lệch giữa hai đối tượng: phòng bệnh người già và phòng bệnh trẻ em; < cha mẹ hiếu thuận con cái thì rất nhiều, còn con cái hiếu thuận cha mẹ thì rất ít>. Do vậy, người dân gian thường nói: " bệnh nằm lâu trên giường, mỏi mắt chờ trông, mới nhìn thấy được lòng người con hiếu thảo", có nghĩa rằng khi lâm trọng bệnh phải trú thân nơi bệnh viện điều trị lâu dài, con cái bình thường lui tới viếng thăm đã là khó khăn rồi, chứ đừng nói chi đến việc quan tâm chăm sóc.
    Lại nữa, cha mẹ khi bình thời đưa con đón cháu đi học từ ngày này qua ngày nọ; từ tháng này qua tháng kia, từ năm này sang năm khác trọn cả cuộc đời phụng sự bảo dưỡng từ con đến cháu không hề một lời than oán, kể công hay ân hận. Thế mà hàng con cháu, khi cha mẹ thân thể không an thuận phải đưa cha mẹ đi bệnh viện kiểm tra bệnh lý hoặc điều trị; đưa đi một lần, hai lần, đến lần thứ ba thì đã lộ vẻ mặt không vui, không nhẫn nại làm tiếp tục. Còn nếu vì cha mẹ làm một chút sự việc gì thì lại tính kể như cả một đại ân huệ. Đài Loan có câu chuyện <cái chén ba đời> kể rằng: " Nhớ rằng thuở ban đầu tôi nuôi con, con tôi nay có gia đình, tôi lại tiếp tục chăm sóc cháu; con tôi bỏ đói tôi vì nó đói chớ đừng nói chi đến hàng cháu bỏ đói tôi". Ôi! Thật đáng thương thay, tấm lòng cao cả của cho mẹ!
    Tại Nam Hải, núi Phổ Đà có một người buôn heo, đối đãi cha mẹ không một chút hiếu thuận, thường hay phản nghịch cha mẹ; thậm chí mắng nhiếc cha mẹ không tiếc lời, khiến cha mẹ anh ta ngày dài áo não, buồn lo. Một ngày nọ, anh ta cùng với một số bạn bè đến núi Phổ Đà lễ bái cầu phước, vì anh ta nghe thiên hạ đồn rằng núi Phổ Đà có Quan Âm sống. Khi đến nơi, anh ta không quản ngại đường xa vạn dặm mỏi mệt, hỏi thăm từng người đường đến gặp Quan Âm. Trên đường đi, lành thay! Có một vị hòa thượng mách bảo anh ta: "Đức Quan Âm sống đó đã đi đến nhà anh rồi". Anh ta nghe xong vội vả quay trở về nhà, mở của bước vào gặp ngay người mẹ đang hối hả đi ra đón anh trong dáng cách như vị hòa thượng mách tả. Anh ta vở lẻ, hiểu được lời giáo huấn của vị hòa thượng trên đường nọ: "Phật, bồ tát tại đường không lễ bái; song thân tại nhà không hiếu dưỡng, đường xa vạn dặm dễ bái Phật cầu phước báo, thành tựu được công đức?".
    Hiếu thuận cha mẹ không phải đợi đến lúc cha mẹ trăm tuổi lâm vào trạng thái sức mòn lực kiệt, sống khổ trên giường bệnh hoặc đã quy tiên chầu Phật thì mới xúc tiến bày mâm cao cổ đầy, kèn trống linh đình, khóc kêu thảm thiết bày tỏ lòng hiếu thảo, thương tiếc. Ngay khi cha mẹ còn tại thế cần nên lòng thành đối đãi hiếu thuận. Thời đại Nam Bắc, triều đại Quỳ Tấn, Tấn Vũ Đế hạ lệnh triệu thỉnh vị giáo thọ của Thái tử Lý Mật Đáng, nhưng ông ta nói: " Thần đã trọn tiết ngày dài bên vua phụng sự, còn báo dưỡng mẹ già Lê Thị thì chỉ có ngắn ngày! Lời nói đó cho thấy rằng: Hiếu dưỡng cha mẹ cần phải kịp thời, vạn muôn không thể đợi đến lúc "Cây muốn lặng mà gió khôn dừng, con muốn hiếu dưỡng cha mẹ không còn chờ đợi nữa." Thì nào có khác gì như chú ếch con khờ dại kia trọn ngày đêm bên bờ sông khóc lóc thảm thiết thong nhớ kêu gọi mẹ?

    Nấc Thang Cuộc Đời
    Dịch giả: Thích Nữ Huệ Phúc

    Ngày đăng 15/08/07
     
  5. boobyeyes

    boobyeyes Ong Nghệ

    Nghịch Tăng Thượng Duyên

    Tổ tiên ta thường nói: "Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người". Điều đó đã nói lên sự tôi luyện thành công sự nghiệp làm người, cần phải nương tựa vào rất nhiều yếu tố nhân duyên hỗ trợ. Cây cối hoa cỏ cần phải có đầy đủ các yếu tố nhân duyên hỗ tương như ánh sáng mặt trời, không khí, nước phân, nhân công v.v... mới có thể khai hoa kết trái. Cao lầu đại hạ cũng cần phải có các vật tư đất, gỗ, đá, gạch...mới có thể thuận lợi thành tựu công trình xây cất. Nhân duyên thuận lợi, đương nhiên dể thành tựu. Nhân duyên không thuận lợi, thì cho dù là tôi luyện phong cách làm người hoặc làm bất cứ sự việc gì cũng đều không tránh khỏi trùng trùng trở ngại khó khăn.
    Khó khăn khổ nhọc có thể đánh ngã được người bình thường, nhu nhược thiếu tự tin, nhưng không thể đánh ngã được người có niềm tin yêu vững chắc, trong sáng. Bởi vì nhân duyên thuận lợi, cố nhiên sẽ trợ giúp chúng ta đạt được thành công nhanh chóng. Nhưng nếu nhân duyên không thuận lợi sẽ khiêu gợi dậy lực lượng tiềm năng phi thường trong mỗi con người. Bởi vì nhân duyên không thuận lợi đó trở thành "nghịch tăng thượng duyên" khích lệ, cổ vũ chí hướng thượng. Điển hình như, khi cơ thể bất an phát bệnh thì con người mới biết phát đạo tâm, chú ý đến sức khoẻ và đi sâu vào nghiên cứu phương án phòng bệnh và chữa bệnh. Cũng vậy, chúng ta có trải qua sự thọ nhận đau khổ mới nghĩ đến phương cách cải thiện hoàn cảnh và dũng mãnh phấn đấu cải tiến kế hoạch cuộc sống.
    Trong thế giới tự nhiên, hoa mai sở dĩ được người ca tụng, là vì hoa mai có bản chất nhẫn nại tiếp nhận gió sương tuyết lạnh; khí tiết càng lạnh, hương thơm càng tỏa ngát. Tùng bách sở dĩ được người yêu thích, quý trọng là vì tùng bách không những không cách ngại sương hàn gió bấc đến mà càng gặp sương hàn gió bấc, tùng bách càng xanh tươi vươn thẳng mình đón tiếp. Banh da càng đánh mạnh, độ nhảy càng cao. Đá vôi nếu không qua lò đốt rừng rực lửa, làm sao có đủ năng lực trở thành vật liệu cần thiết lưu ở nhân gian?
    Kìa! Chúng ta hãy nhìn xem, trong cơn cuồng phong bão táp mưa sa, cây liễu trúc mặc dù đơn độc lẻ loi, nhưng nó vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu, sừng sững thẳng mình cất cao khúc nhạc khải hoàn. Ở vùng Nam Bắc cực, quanh năm băng tuyết giá rét, các loài động vật sống trên vùng đất ấy vì sự sanh tồn mà không ngừng phấn đấu đối mặt với nghịch cảnh trắc trở gian nan và lấy đó làm tăng thượng duyên để nổ lực vươn lên.
    Bậc cổ nhân thường nói: "Hàn môn xuất hiếu tử"; Thật vậy, trong cảnh cơ hàn mới thấu suốt được lòng người con hiếu thảo. Xưa ngài Mẫn Tử bị kế mẫu quở trách, chưởi mắng, đối xử khắc nghiệt, nhưng ngài vẫn không một lời than oán; ngược lại, lấy đó làm nghịch tăng thượng duyên tôi luyện chí hiếu, tạo nên nhân vật lịch sử người con chí hiếu ưu tú để gương chiếu sáng ngàn năm cho đời. Trong cửa thiền môn đề xướng lấy nghịch tăng thượng duyên làm đề mục khích lệ và huấn tập hành giả nghị lực kiên cường dũng mãnh, bảo trì hạnh đức "bình thường tâm thị đạo" ứng phó với bất luận cảnh tình đông hàn gió bấc, hay cảnh tình nắng táp mưa sa. Do vậy, khi đông hàn giá lạnh đến, người hành giả hướng vào chốn sương giăng tuyết phủ để huấn tập; rồi khi tiết hạ nắng nóng cháy da, lại hướng về nơi mặt trời phát hỏa quang để tôi luyện thiền tập. Do sinh hoạt trong nghịch cảnh duyên như vậy mà hun đúc ra cho chính mình đời sống nội tâm phong phú với chí hướng thượng cao cả, tràn đầy nghị lực. Đồng thời hun đúc cho chính mình một tài sản kinh nghiệm vô giá.
    Trên trang lịch sử Phật Giáo Trung Quốc, nếu không có sự kiện giáo nạn "Tam Võ Nhất Tông" xảy ra thì làm sao hiển hiện được lực lượng huy hoàng của Phật Giáo. Nếu không có những uy quyền chuyên chế trùng trùng điệp điệp bức hại, tất sẽ không sản sinh ra Đại sư Huệ Viễn cất lên tiếng gọi cao thiêng "hàng xuất gia không quỳ bái các bậc vương tước". Nếu không có Do Thái phản Giêsu, thì Giêsu nào có được nhân duyên để hiển hiện thánh đức. Và nếu không có Đề-bà-đạt-đa cầm đầu chỉ đạo nhóm ngoại đạo bức hại, thì Đức Phật Thích Ca cũng không có đủ yếu tố nhân duyên để hiển lộ thánh đức cao cả của đấng Thế-tôn. Trên lộ trình cuộc sống, gặp phải tảng đá lớn chặn đường, chúng ta có thể bị vấp ngã bởi nó, hoặc giả chúng ta khéo biết lợi dụng nó làm điểm tựa an ổn chân đứng để có thể đứng nơi điểm cao vọng tầm nhìn xa. Cuộc sống của con người thành công và thất bại đều do nơi chính mình khéo biết cách vận chuyển nghịch cảnh hóa thành tăng thượng duyên. Bởi lẽ, không có đêm tối làm sao cảm nhận được công năng lợi ích vĩ đại của ánh sáng quang minh? Không có tội ác của đối phương, con người làm sao cảm thấu được đức hạnh chân thiện mỹ của bậc hiền nhân? Cũng vậy, không có ô nhiễm cấu uế làm sao cảm nhận được niềm sảng khoái tươi mát của sự ngăn nắp, sạch sẽ? Không có pháp so sánh sai khác làm sao tìm ra được pháp thống nhất? Do vậy cái kỳ diệu của nghịch tăng thượng duyên là ở chỗ:
    Người biết nghe, khéo nghe âm thanh vô thanh
    Người biết nhìn, khéo nhìn tướng vô tướng
    Người biết nói chuyện, khéo dụng ngôn vô ngôn.

    Nấc Thang Cuộc Đời-Đại sư Tinh Vân
    TN.Huệ Phúc dịch

    Ngày đăng 27/11/07
     
  6. boobyeyes

    boobyeyes Ong Nghệ

    Có những câu chuyện thật mà cứ ngỡ như cổ tích...



    NGƯỜI ĐI NGƯỢC GIÓ


    Truyện về Nguyễn Phan Anh Tú (ảnh trên) - một cô gái sinh năm 1985, vừa tốt nghiệp Đại học Oxford của nước Anh. Cùng một lúc, cô theo học cả hai ngành: Quản trị kinh doanh và Tiếp thị.Một câu chuyện về nghị lực vượt khó - đúng là phụ nữ Việt Nam ^^

    * * *

    “Khi tôi đang học lớp 9, ba mẹ tôi bị phá sản. Từ giã ngôi biệt thự, gia đình 5 người gồm bố mẹ và 3 đứa con sống chật chội lay lắt trong một căn nhà thuê nhỏ xíu

    Trong những khối tài sản phải bán đi trả nợ, tôi tiếc nhất cây đàn Piano, bởi nó cùng tôi lớn lên, nuôi dưỡng tuổi thơ. Biết tôi yêu âm nhạc, mẹ cố giữ lại cây đàn violon. Nhưng trước khó khăn của gia đình, tôi cũng phải bán đi cây đàn nhỏ bé, dù nó chỉ đổi được vài bữa cơm đạm bạc.

    Khi học cấp ba, tôi chỉ muốn vào ĐH kinh tế, vì suy nghĩ đơn sơ, đây là ngành học có thể kiếm được tiền lo cho gia đình. Tôi tự học tiếng Anh, để dễ tìm việc làm.

    Gieo mầm tương lai

    Rồi một cuộc gặp gỡ đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Đó là một chiều, tôi làm quen với một người Ý, chỉ vì muốn thực hành nói tiếng Anh. Người bạn mới, một tình nguyện viên của một tổ chức phi chính phủ hỏi tôi: “Sao bạn không đi du học? Tại sao không?”. Gợi ý của ông bạn gieo vào tôi một niềm tin. Không nói suông, anh bắt đầu lên mạng, “search” vào danh sách các trường ĐH trên thế giới, và chọn ra cho tôi 5 đề thi. Đáp lại sự giúp đỡ của anh, tôi cố gắng làm bài, coi như một cơ hội rèn luyện kỹ năng viết tiếng Anh.

    Nhưng thật bất ngờ, ĐH Oxford của Anh quốc, gọi tôi nhập học, ngành quản trị kinh doanh. Niềm vui không vượt được nỗi lo. Anh bạn người Ý tiếp tục giúp tôi bằng cách kêu gọi tổ chức của anh tài trợ cho tôi tiền máy bay, và động viên tôi cứ sang Anh, học có kết quả tốt sẽ xin được học bổng. Nhưng tôi cũng phải có một số tiền để sống trong một thời gian chưa có học bổng, mà tôi không biết là bao lâu.

    Tôi nói với mẹ. Bà chỉ im lặng! Tôi gõ cửa những công ty lớn, trình bày nguyện vọng đi học, cam kết sẽ về làm việc cho công ty. Nhưng chẳng ai tin tưởng, chịu đầu tư cho một cô gái nhỏ bé. Con đường du học của tôi cứ mờ dần…

    Khi gần đến ngày nhập học, bỗng nhiên mẹ dúi cho tôi gần 1.000 USD. Mẹ đã bán hết mọi thứ kỷ vật của ngày lên xe hoa, vay mượn thêm… để nuôi ước mơ cho tôi. Mẹ nhắc tôi giữ gìn sức khỏe. Bà đọc được trong mắt tôi niềm vui tột cùng, cùng ý chí quyết tâm đi học và tôi hiểu thế nào là lòng mẹ bao la! Một người bạn thân của mẹ tặng tôi cây đàn violong, để tôi có một người tri kỷ cùng đi đến vùng đất lạ vào cuối năm 2003.

    Nước Anh đón tôi bằng một lớp sương mù, rét buốt, khiến tôi cứng người, đứng chôn chân giữa phố, may có người phát hiện đưa tôi vào nhà. Vốn từ tiếng Anh hơn 500 điểm TOFLE của tôi, sang đây, cũng trở nên điếc đặc khi nghe người bản xứ nói. Dò dẫm, rồi tôi cũng đến được trường Oxford, ngôi trường danh giá, nổi tiếng. Tôi phấn chấn dạo một vòng quanh sân trường, không khí đậm đặc sự nghiên cứu, uyên bác.

    Tôi ra mắt các thầy phụ trách. Họ kiểm tra xem tôi có đúng là người đã làm bài thi gửi đến cho trường qua mạng không. Dù chuẩn bị khá kỹ nhưng tôi vẫn trình bày lại những gì mình viết một cách lập cập. Các thầy bảo tôi phải học thêm tiếng Anh tại Học viện ngôn ngữ quốc tế tại TP này, phải làm lại một tiểu luận khác theo yêu cầu của trường, nếu trình bày và được hội đồng giáo viên chấp nhận, thì mới trở thành sinh viên chính thức của trường.

    Oằn mình nơi đất khách

    Tôi chọn một khách sạn bèo nhất TP Oxford, giá cũng đã đến 20 USD một đêm, nhưng vì phải chi một khoảng lớn trong số tiền còm cỏi cho việc học tiếng Anh, nên trong một tuần, tôi đã cạn túi. Tôi quay về trường, gặp người quản lý du học sinh nhờ giúp đỡ. Anh ta lắc đầu: “Trường này đâu phải nhà trọ, nhà mở… Bạn phải tự lo, cố gắng có học bổng, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn”.

    Tôi kéo vali ra khỏi khách sạn, không biết đi đâu, ở chốn không bạn bè, không người thân. Lần đầu tiên qua đêm tại ga tàu điện ngầm, dùng hai vali làm giường, co ro trong chiếc áo choàng có dòng chữ ĐH Oxford làm chăn, tôi không sao ngủ được. Tôi đúng là một kẻ “homeless” rồi!

    Sân ga này quá rộng và bẩn, nên cảnh sát không quá khắt khe, xua đuổi. Tuy nhiên, nơi đây, lúc nào cũng sáng đèn, trật tự, kẻ tham cũng biết thừa sinh viên phải ngủ bụi, thì trong túi cũng chẳng có gì. Tôi đành chọn sân ga làm “nhà”. Có một ban nhạc chơi ngay trong sân ga. Tôi mon men đến làm quen, xin tham gia. Họ từ chối, vì tôi không có giấy phép, nếu cảnh sát phát hiện tôi làm chui, sẽ trục xuất tôi về nước.

    Đói ở xứ lạnh là một chuyện khủng khiếp, đến nỗi tôi phải bán cây đàn violong với giá chỉ có 30 USD để sống sót, rồi những gì trong vali có thể bán được, tôi đều bán hết, vừa có tiền, vừa nhẹ, vì đi đâu, tôi cũng phải kéo chúng theo. Mỗi ngày, ngoài việc học tiếng Anh, tôi phải bắt đầu viết bài tiểu luận về cách quản lý của nhà hàng KFC (gà rán). Tôi nhịn đói, để dành tiền đi xe buýt, tàu điện… Nhịn đói đến ngày thứ ba, trong cơn run rẩy, tôi gặp một người đàn bà đi cùng một con chó. Bà là người vô gia cư, ăn xin có giấy phép.

    Biết tôi là sinh viên, bà đồng ý cho tôi theo, hôm nào có tiền, tôi được bà dẫn về trại ngủ tập thể, giá rất rẻ, và được nằm hẳn hoi một mình trên một cái giường. Nhưng những ngày thiếu ăn, ngủ bụi vẫn nhiều hơn. Con chó của bà tên là Đôla,nó biết điều và luôn tự tìm thức ăn trong thùng rác. Tuy nhiên, có bà làm bạn, tôi vui lắm. Ai có thể biết, một cô gái chững chạc đến phỏng vấn các nhà quản lý lấy tư liệu, lại là một kẻ lang thang, sống nhờ vào lòng từ thiện của người đi đường.

    Một hôm, người đàn bà ấy bỏ đi, khi tôi ngủ say. Tự nhiên, tôi quá nản lòng, muốn quay về nhà ngay tức khắc. Trước khi đi, tôi đã trấn an mẹ: “Có vé khứ hồi, nếu mọi sự trục trặc, con sẽ quay về”.

    Cây đàn violon và niềm tin tỏa sáng

    Trong lúc ngồi chờ máy bay, tôi suy nghĩ mông lung. Tôi đã xa nhà hơn hai tháng, chắc mẹ cũng chưa trả hết nợ nần, kỳ tuyển sinh ĐH trong nước đã xong, tôi đâu còn cơ hội thi. Chẳng lẽ, tôi về nhà tay không? Ít ra cũng phải lấy được bằng TOFLE 600 điểm… Tôi quay lại sân ga. Người đàn bà hành khất đã trở lại chỗ cũ. Con chó rối rít mừng tôi. Bà ta nhìn ban nhạc kiếm được nhiều tiền, chép miệng với tôi: “Phải chi mày cũng biết đàn!” Tôi tròn mắt gật đầu lia lịa. Bà kéo tôi ra một tiệm bán đàn, thuê cây đàn violon cũ, không đủ tiền trả, bà bèn thế chấp con chó.

    Ông chủ tiệm gật gù: “Nếu 10 ngày sau không mang tiền lại thì con chó sẽ bị giết”. Nhưng, tôi chưa đủ điều kiện để được phép chơi đàn. Mùa đông ập đến, cơn đói đe dọa, con chó sẽ bị giết… tôi chạy ra ngoài phòng cấp giấy phép, và bật khóc nức nở. Người đi đường dừng chân hỏi chuyện. Họ cảm thông, họ biểu tình, họ đòi hỏi… Cuối cùng, tôi được một giấy phép chỉ được đàn trong những giờ vắng khách. Họ lại đến nghe, ủng hộ… Mọi việc đang suôn sẻ, thì một lần nữa, người đàn bà ôm hết tiền, bỏ đi cùng với cây đàn. Khi tôi đi học về, chỉ có con chó ngồi chờ.

    Tôi lại trắng tay, hụt hẫng, và lại muốn quay về nhà. Nhưng rồi tôi nghĩ lại chặng đường đã qua, con đường đầy gai mà tôi đã rẽ ra mà đi, tôi phải đến đích. Tôi đến chỗ tiệm đàn, ông chủ tiệm thông cảm với tôi, nhận hộ chiếu làm vật thế chấp. Trong một góc sân ga, tiếng đàn của tôi với những giai điệu của nhạc Trịnh đã níu chân nhiều khách qua đường, trong đó có rất nhiều người Việt. Tôi ấm lòng, đỡ nhớ nhà, nhớ quê.

    Có tiền, tôi an tâm dồn sức học hành. Bài tiểu luận của tôi được trường chấp nhận, vốn từ tiếng Anh của tôi đã đủ để tôi được trở thành sinh viên chính thức của trường. Tôi được vào ký túc xá, chấm dứt 6 trời tháng lang thang, sống cảnh “bụi đời”. Tôi tiết kiệm, tính toán trong số tiền học bổng, ưu tiên mua một chiếc laptop, sách, còn ăn uống vẫn chủ yếu là bánh mì không thịt. Tôi dẫn con Đôla vào ký túc xá, nhưng chẳng bao lâu thì con chó già tình cảm ấy qua đời.

    Sau hai năm học hành, làm thêm nghề giữ trẻ, dành dụm được ít tiền, tôi mới tính chuyện về nhà thăm gia đình, và tìm nguồn tư liệu chuẩn bị cho luận án tốt nghiệp. Không thể tả hết nổi xúc động khi tôi trở lại sân bay Tân Sơn Nhất. Mọi người đều kinh ngạc thấy tôi khóc như mưa. Mấy ai biết, đó là nước mắt của hạnh phúc, của nhớ thương…”

    * * *

    Tết năm nay, My - tên gọi ở nhà của Anh Tú - không còn lang thang ở xứ người, hay co ro đọc sách, rồi ngủ quên trong cơn nhớ nhà. Con đường phía trước của một cô gái trẻ vẫn còn nhiều thách đố của công việc, của sự nghiệp… Nhưng cô vẫn thương lắm nẻo đường đã qua, con đường mà đi theo chiều ngược gió, có quá nhiều kỷ niệm. Cô cảm ơn những gian nan, nghèo khó, cảm ơn cả người đàn bà bí ẩn, bội bạc… vì nhờ sự bỏ đi của bà, mà cô trưởng thành.

    Ngày đăng 12/03/08
    Người đăng Dieulinh
     

Chia sẻ trang này