Câu chuyện tiếng Việt

Thảo luận trong 'TIẾNG VIỆT' bắt đầu bởi tandai, 06/09/2008.

  1. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Ở đây đăng lại những bài viết về những câu chuyện thực tế trong việc sử dụng tiếng Việt.
     
  2. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Biết chết liền!

    TTCT - Chúng ta quan sát ba đoạn trao đổi giữa hai người:
    1. A: Giáo viên mới dạy thế nào?
    B: Hiểu chết liền!

    2. A: Nó giỏi lắm phải không?
    B: Giỏi chết liền!

    3. A: Nghe nói bạn sẽ đi du học?
    B: Đi chết liền!

    Trong đoạn thứ nhất, câu trả lời của B có nghĩa là: (1b) (Giáo viên mới dạy) không hiểu (được). Trong đoạn thứ hai, câu trả lời của B có nghĩa là: (2b) (Nó) không giỏi. Trong đoạn thứ ba, câu trả lời của B có nghĩa là: (3b) (Tôi sẽ ) không đi du học.


    Cả ba câu trả lời trên có điểm giống nhau: Nếu lời nói ra trong câu trả lời là “hiểu” thì ý của lời đó là ngược lại: “không hiểu”. Nếu lời nói ra trong câu trả lời là “giỏi” thì ý của lời đó là ngược lại: “không giỏi”. Nếu lời nói ra trong câu trả lời là “đi” thì ý của lời đó là ngược lại: “không đi”. Trong sách giáo khoa toán 10, có khái niệm về phép qui nạp. Sự giống nhau một cách hệ thống trong ba câu trả lời trên cho chúng ta thực hiện phép qui nạp:
    (I) Trong câu trả lời, nếu lời nói ra là “X chết liền!” thì ý của lời đó là “không X”
    Trong ngôn ngữ học, “lời nói ra” được gọi là hiển ngôn, còn ý của nó được gọi là hàm ý.
    II. Câu hỏi được đặt ra là:
    Vì sao hiển ngôn là “X chết liền” có hàm ý “không X”?
    Câu trả lời là vì nó tuân theo một phép suy luận logic. Để bạn đọc dễ hình dung ra phép suy luận này, chúng ta sẽ thay X = hiểu mà vẫn không làm mất tính khái quát trong lập luận.
    Trong ngôn ngữ học có nguyên lý tiết kiệm ngôn ngữ. Đại để như sau: “Người nói dùng một năng lượng tối thiểu để truyền đi lượng thông tin tối đa”. Nguyên lý này cho phép giải thích được nhiều hiện tượng ngữ âm và ngữ pháp. Về ngữ pháp, đó là hiện tượng rút gọn: nếu rút gọn câu chữ mà người nghe vẫn hiểu được đúng ý mình thì người ta sẽ rút gọn. Vận dụng điều này vào câu chúng ta đang quan tâm: “Hiểu chết liền” chính là sự rút gọn của câu: “Nếu tôi hiểu thì tôi chết liền”. Còn “không hiểu” chính là sự rút gọn của câu “Tôi không hiểu”. Như vậy, phép suy luận của chúng ta sẽ là:
    (Ib) Từ hiển ngôn
    (4) Nếu tôi hiểu thì tôi chết liền.
    Chúng ta sẽ suy ra hàm ý.
    (5) Tôi không hiểu.
    Đây chính là một phép suy luận toán học. Nói đúng hơn, một phép suy luận logic mà một mệnh đề đã được rút gọn vì nó là hiển nhiên với mọi người.
    III. Trong sách đại số 10 có trình bày các phép toán mệnh đề. Từ hai mệnh đề a (= tôi hiểu) và b (= Tôi chết liền), chúng ta có mệnh đề kéo theo a b (= Nếu tôi hiểu thì tôi chết liền), ở đó, a là điều kiện đủ của b.
    Người ta đã chứng minh được rằng trong mệnh đề kéo theo a b, thì b là điều kiện cần của a, nghĩa là nếu không có b thì sẽ không có a. Nói cách khác, từ hai điều cho trước gọi là hai tiền đề (a b và không phải b) sẽ suy ra được điều thứ ba gọi là kết luận (là không phải a). Người ta gọi đó là phép tam đoạn luận, hay là phép suy luận theo điều kiện cần từ phép kéo theo. Nó mang tên modus tollens, viết tắt là MT. Cụ thể là:
    (4) Nếu tôi hiểu thì tôi chết liền (a b)
    (4b) Tôi không chết liền (b)
    Vậy thì: (5) “Tôi không hiểu” (a)
    Trong thực tế, sẽ không có chuyện “tôi chết liền” một điều hiển nhiên mà cả người nói lẫn người nghe đều ngầm hiểu. Trong giao tiếp thông thường, theo nguyên lý tiết kiệm ngôn ngữ, chẳng cần phải nói ra cái điều hiển nhiên mà trong thực tế ai cũng biết là làm gì.
    Thế là người ta lược bỏ câu “tôi chết liền” đi. Từ hai tiền đề trên đây chỉ còn lại tiền đề thứ nhất (= Nếu tôi hiểu thì tôi chết liền) nhưng chúng ta vẫn suy ra a ( = Tôi không hiểu). Điều này giải thích vì sao câu (4) có hàm ý (5).
    Một cách khái quát, câu “X chết liền” có hàm ý “không X”. Chỉ cần nói “biết chết liền” mọi người sẽ hiểu là “không biết”. Chỉ cần nói “giỏi chết liền” mọi người sẽ hiểu là “không giỏi”...
    Xin các bạn lưu ý: cách nói tạo hàm ý (Ib) không mới. Nó có từ rất lâu đời rồi. Người viết hi vọng tới đây các bạn trẻ sẽ nói: Đọc bài này “không hiểu chết liền!”.
    GS TS NGUYỄN ĐỨC DÂN


    (bài của lecongquy trên Diễn đàn cũ)
     
  3. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Có thể chuẩn hóa tiếng Việt?

    Bài này trích đăng lại từ Tuổi Trẻ Cuối Tuần, ngày 07/01/2007:
    ---

    Trong quá trình phát triển với tư cách ngôn ngữ chính thức của một quốc gia độc lập, tiếng và chữ Việt không khỏi bộc lộ những chỗ còn cần bổ sung, nâng cao.
    Vậy là ngay trong những ngày nước sôi lửa bỏng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, một hội nghị về Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (1966) đã được tổ chức tại Hà Nội với sự chủ trì của đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ở miền Nam, một số nhân sĩ tâm huyết với tiếng mẹ đẻ cũng có mặt trong các tổ chức như Ủy ban Điển chế văn tự, Ủy ban Quốc gia soạn thảo và dịch thuật danh từ chuyên môn.
    Sau ngày đất nước thống nhất, hội nghị 1979 là dịp qui tụ các nhà nghiên cứu của cả nước với tham vọng “chuẩn hóa” việc sử dụng tiếng Việt. Đáng tiếc là các khuyến cáo, đề xuất, thậm chí cả một số qui định của các cơ quan cấp quốc gia cho đến nay vẫn chỉ nhận được thái độ thờ ơ của xã hội.
    Hai ví dụ: Hội nghị Thống nhất ngôn ngữ (1956 - Sài Gòn) cũng như Ủy ban Điển chế văn tự thuộc Bộ Văn hóa giáo dục (1973 - Sài Gòn) đều nhấn mạnh cần sử dụng bộ Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, song có mấy người nhớ đến và làm theo.
    Một số qui định chung về chính tả... (1980 - Hà Nội) của Ủy ban Khoa học xã hội và Bộ Giáo dục có tạo được sự bắt buộc trong nội bộ hai cơ quan đó, song nhiều học sinh được đào tạo ở trường học phải viết i thay y, ngay sau khi ra trường đi làm lại quay lại viết y như truyền thống, thậm chí “trả thù” bằng cả những chữ xưa nay không viết thế: văn nghệ sỹ, nhạc sỹ, họa sỹ...
    Một tia hi vọng le lói trong tình trạng này: mặc dù các khuyến cáo, đề xuất, qui định từ thượng tầng đưa xuống không được xã hội hưởng ứng, nhưng do nhu cầu công việc cụ thể, thực tế hằng ngày, hầu hết các tòa soạn báo, nhà xuất bản và một số cơ quan có chức năng soạn thảo văn bản đều có riêng những bản qui định về văn phong với những trường hợp rất chi tiết, chẳng hạn:
    - Số Ả Rập hay La Mã: đại hội IX hay đại hội lần thứ 9,
    - Khi nào viết số khi nào viết chữ,
    - Ngày tháng: 05-09-2006 (lúc nào được viết 06), 5-9-2006, 5/9/2006, 5.9.2006, ngày 05 (hay 5) tháng 9 năm 2006,
    - Dấu chấm câu đứng ở đâu? Liền ngay sau chữ cuối cùng của đoạn câu, hay có dấu cách sau chữ ấy (trong các sách giáo khoa (của Nhà xuất bản Giáo Dục) có sự phân biệt: dấu chấm, dấu phẩy thì đi liền ngay sau chữ cuối cùng, nhưng dấu chấm hỏi và hai chấm lại phải cách một khoảng cách),
    - Chữ hoa và thường: chữ Nôm (hay nôm), chữ Quốc (hay quốc) ngữ, trường đại (hay Đại) học, đông tây nam bắc (hay Đông Tây Nam Bắc),
    - Tên riêng (đất và người) Việt Nam và nước ngoài...
    Nếu tập hợp được các bản qui định ấy để đối chiếu những chỗ giống và khác nhau, thì có thể có được một phác thảo qui định chung được nhiều người chấp nhận.
    Các cơ quan truyền thông đại chúng có ảnh hưởng phần nào đến cách sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là các phương tiện nghe nhìn. Do đâu một phát thanh viên đọc vnn.org.vn là vê-en-en (theo cách đọc a-bê-xê) o-rờ-gờ (theo cách đọc a-bờ-cờ) vi-en (theo cách đọc ây-bi-xi của Anh). Những qui định nào sẽ giúp các biên tập viên và phát thanh viên viết và nói “tương đối” đúng, hay ít ra là nhất quán, để cho xã hội còn có chỗ mà noi theo?
    * * *​
    Có hai kinh nghiệm giải quyết vấn đề ở hai khu vực nói tiếng Anh và tiếng Pháp.
    Các cơ quan truyền thông Anh - Mỹ thường có những qui định rất chi tiết về cách viết, cách nói cho nhân viên của họ. Hãng thông tấn Mỹ AP (Associated Press) của Mỹ có một tài liệu qui định cách viết - AP style book - có riêng một trang web, cập nhật hằng năm. Tài liệu này nổi tiếng đến mức nhiều tài liệu biên soạn sau nó (cũng về qui định văn phong) thường chú thích: “Cái này AP không có, cái này khác với AP”...
    Nhiều cơ quan khác khi chưa có qui định riêng thường chỉ cần công bố cho nhân viên là “theo AP style book”. Ngược lại, AP cũng nhờ có nhiều người dùng mà hằng năm cập nhật bổ sung được nhiều điều mới mẻ, bám sát được những đổi mới của ngôn ngữ. Những tập hướng dẫn khác như The Guardian style guide, BBC News style guide và The Economist style guide cũng góp phần đáng kể vào việc “chuẩn hóa” tiếng Anh - Mỹ. Quan sát kỹ ta thấy càng ngày nội dung của các tập hướng dẫn này càng gần nhau hơn.
    Pháp có lẽ là một trong số những nước xuất bản nhiều sách loại qui định, hướng dẫn cách viết, cách nói (manuel de rédaction) nhất. Tiếng Pháp lại được nhà nước Pháp quan tâm một cách đặc biệt. Hiếm ở đâu lại có chuyện thủ tướng đề xuất cụ thể:
    “Thủ tướng đề nghị với Hội đồng cấp cao về tiếng Pháp suy nghĩ năm điểm cụ thể dưới đây về chính tả: dấu gạch nối, số nhiều của từ ghép, dấu mũ, phân từ quá khứ của động từ phản thân, các trường hợp bất thường khác” (báo cáo của Hội đồng cấp cao về tiếng Pháp đăng trong Công Báo của Pháp ngày 6-12-1990).
    Các tổ chức chăm lo cho tiếng Pháp cũng nhiều. Quan trọng nhất có lẽ là Hàn lâm viện Pháp (Académie francçaise) với chỉ hai nhiệm vụ chính: bảo vệ tiếng Pháp và bảo trợ văn nghệ. Viện này nhận xét, cảnh báo việc sử dụng tiếng Pháp, tự tăng các từ mới cho cuốn từ điển của chính viện soạn thảo, tham gia các ủy ban về thuật ngữ và từ mới, làm nhiệm vụ điều tiết ngôn ngữ, cố gắng tìm những dạng thức ngôn ngữ được cho là đúng nhất.
    Về thực chất và về pháp lý, viện này là người phán xét về cách dùng ngôn ngữ (tiếng Pháp). Dựa vào đạo luật Toubon ban hành ngày 4-8-1994, sắc lệnh ngày 3-7-1996 thành lập một ủy ban mới về thuật ngữ và từ mới, ủy ban này đề xuất những từ mới, sau khi được Hàn lâm viện Pháp đồng ý, những từ này sẽ được đăng vào Công Báo với cả định nghĩa của chúng.
    * * *​
    Ở nước ta, các cơ quan tổ chức có quan hệ nhiều đến việc nói và viết đúng tiếng Việt nên gặp gỡ, trao đổi để thống nhất dần các qui định về văn phong, tiến tới một qui định chung. Ban đầu là từng nhóm gần gũi nhau về chức năng, bước đầu là chỉ thống nhất những chỗ hoàn toàn giống nhau, những chỗ khác nhau hãy tạm gác lại để giải quyết dần nhờ sự góp ý của các nhà chuyên môn và có thể qua trưng cầu ý kiến một bộ phận đại diện người dùng.
    Có thể hình dung các nhóm nói trên gồm:
    Nhóm 1, thông tấn xã, các đài phát thanh và truyền hình trung ương và hai thành phố lớn.
    Nhóm 2, các tờ báo chính của trung ương và hai thành phố lớn.
    Nhóm 3, Nhà xuất bản Giáo Dục và một vài nhà xuất bản có số lượng xuất bản phẩm lớn.
    Nhóm 4, cơ quan Văn phòng Chính phủ...
    Bên cạnh các nhóm này là một ban cố vấn gồm các nhà văn, nhà ngôn ngữ học, các nhà khoa học trong các cơ quan tiêu chuẩn của Nhà nước; ban này chủ yếu có nhiệm vụ giải quyết dần các vấn đề không thống nhất giữa các nhóm nói trên. Cứ như thế, một cuốn tài liệu hướng dẫn văn phong nói và viết sẽ được tích lũy dày dần, cập nhật dần hằng năm.
    Không thể có bất cứ cái gì nếu không bắt đầu.

    Về cải cách tiếng và chữ Việt thì đã từng có nhiều hội nghị và đề xướng: 1902, Hà Nội, hội nghị nghiên cứu Viễn Đông do Ủy ban Cải cách chữ quốc ngữ (Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp); 1906, hội nghị của hội đồng cải lương học chính; 1928, đề xướng “Quốc ngữ mới” của Nguyễn Văn Vĩnh; 1949, đề xướng “Chữ và vần Việt khoa học” của Nguyễn Bạt Tụy; 1956, Sài Gòn, hội nghị thống nhất ngôn ngữ do ủy ban ngôn ngữ (đại hội văn hóa toàn quốc); 1959, Hà Nội, hội nghị cải tiến chữ quốc ngữ.

    HẢI THUỴ
     
    Chỉnh sửa cuối: 06/09/2008
  4. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Viết và đọc tên riêng nước ngoài

    Trích đăng bài viết từ Tuổi Trẻ Cuối Tuần, ngày 04/03/2007:

    Viết và đọc tên riêng nước ngoài
    TTCT - Viết và đọc tên riêng nước ngoài (TRNN) là đề tài từng làm hao tổn rất nhiều giấy mực trong gần nửa thế kỷ nay. Phải chăng có nguyên do lịch sử?

    Trong bốn thứ tiếng đồng văn (Hán, Việt, Nhật, Cao Ly), hay ba thứ tiếng Hán hóa (Việt, Nhật, Cao Ly) thì tiếng Việt là tiếng duy nhất dùng chữ viết Latin, nhưng vẫn còn chịu ảnh hưởng khá sâu đậm của văn hóa và ngôn ngữ Hán.
    Đầu thế kỷ trước, người Việt đã mượn tiếng Hán để ghi tên riêng châu Âu (nước Tỉ [tức Bỉ] = Belgique, ông Đạt Nhĩ Văn = Darwin), thậm chí cả Nhật Bản (Hoành Tân = Yokohama, Minh Trị = Meiji), Cao Ly (Hán Thành = Seoul). Thói quen này phần nào vẫn còn được lưu truyền đến ngày nay.
    Cũng do thói quen này, về sau, nhất là sau Cách mạng Tháng Tám 1945, khi phải du nhập nhiều TRNN, người ta nghĩ - một cách rất tự nhiên - trước tiên đến chuyện phiên âm. Tại sao lại chỉ phiên âm? Tức là chỉ nghĩ chuyện đọc (thành lời) mà không nghĩ chuyện viết (trên giấy).
    Chữ Hán, chữ Nhật, chữ Cao Ly nếu không phiên âm (hay chuyển tự) thì chẳng lẽ lại bê nguyên một đống chữ Latin xen kẽ với những chữ khối hình vuông (chữ Hán), hay những chữ vốn có xuất xứ từ các nét của chữ khối hình vuông (chữ Nhật, Cao Ly). Chữ Việt (Latin hóa) đâu có cần như thế.

    [​IMG]
    * * *​
    Tình hình viết và đọc TRNN trên thế giới tựu trung có ba mảng khác nhau do đặc điểm văn tự:
    1. Tất cả mọi nước dùng chữ Latin đều lấy nguyên dạng TRNN, không phiên âm theo cách đọc của tiếng mình, ngay cả ở các nước láng giềng chúng ta như tiếng Tagalog ở Philippines, Bahasa ở Indonesia; không có ngoại lệ. Tất nhiên không kể trường hợp trong quá khứ đã từng có lúc người ta tự đặt tên hoặc dịch lẫn của nhau, như London của Anh thì Pháp và Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha gọi là Londres (cách đọc có khác nhau), Ý gọi là Londra, Hà Lan là Londen. Những nước chưa phát triển lắm thì thả nổi cho ai muốn đọc thế nào thì đọc, miễn là viết phải chính xác; còn những nước phát triển thì có qui định rõ ràng về cách đọc từng tên riêng cho mọi người đọc theo một cách nhất quán.
    2. Những nước không dùng văn tự Latin (trừ Trung Quốc - TQ) thì xây dựng một bảng qui đổi (thường là một đối một) giữa âm - chữ Latin với âm - chữ bản ngữ để chuyển đổi. Việc chuyển đổi này được gọi là chuyển tự, ví dụ:
    3. TQ là trường hợp đặc biệt, mỗi chữ là một âm tiết, cho nên cách phiên âm của họ phải dùng một bảng ma trận, hàng ngang là các phụ âm đầu, hàng dọc là vần, dóng một phụ âm đầu ở một cột trên hàng ngang với một vần ở một dòng trên hàng dọc sẽ gặp được một ô chứa một chữ (vuông) có âm tương ứng, ví dụ (tiếng Nga) dóng hàng ngang âm “p”, hàng dọc vần “u” sẽ gặp ô có chữ Hán “phổ” [​IMG] phát âm là [p'u], dóng hàng ngang âm “t”, hàng dọc vần “in” sẽ gặp ô có chữ Hán “kinh” [​IMG] phát âm là [jing], ghép lại putin -> chữ Hán “phổ kinh” [​IMG][​IMG] [p'ujing].
    * * *​
    Từ tình hình trên, phải chăng có thể đi tới nhận thức mới:
    - Ngôn ngữ đã dùng văn tự Latin (như tiếng Việt) thì nên dùng TRNN ở nguyên dạng, nghĩa là theo dạng được ghi bằng chữ cái Latin theo qui định chính thức của các quốc gia tương ứng, trên khai sinh, hộ chiếu (đối với nhân danh) hoặc trên bản đồ quốc gia (đối với địa danh). Ngay cả TQ cũng áp dụng cách này cho cách viết pinyin (kiểu chữ abc phiên âm chữ Hán) của họ, theo đúng qui tắc Latin hóa do hội nghị tiêu chuẩn hóa địa danh của LHQ đề ra.
    - Để đọc và nói đúng TRNN cần có phiên âm (cách đọc) cho từng tên. Do phiên âm chỉ là cách đọc, không phải là cái thay thế nguyên dạng, vì vậy không cần phải lúng túng bày đặt bổ sung thêm cho vần quốc ngữ những cụm st-, str-, fl-, tr-, cr-, -l, -s, -d... khác với trường hợp cần xử lý đối với thuật ngữ khoa học.
    Người TQ, người Nhật cũng đành chịu dài dòng khi viết và đọc [xư-tơ-la-xư-pao] (Hán = Strasbourg), [lư-cư-xang-bu-lư-cư] (Nhật = Luxemburg), [xi-chya-li ao-ha-la] (Hán) và [xư-ca-a-lét-tô ô-ha-la] (Nhật) = Scarlett O'Hara, sao người Việt không thể chấp nhận [xư-tơ-ra-xư-bua], [lúc-xem-bua], [xư-các-lét ô-ha-ra]?
    Người TQ, Nhật, Cao Ly, Thái... khi chuyển tự rồi thì cứ thế đọc theo đúng hệ thống âm vị của họ, nghĩa là đọc tên nước ngoài lên theo âm điệu của tiếng Hán, Nhật, Cao Ly, Thái... chứ không như một số phát thanh viên VN đang đọc văn bản tiếng Việt, khi gặp một tên riêng hoặc danh từ, thuật ngữ tiếng Anh lại uốn éo theo hệ thống âm vị Anh, chẳng hạn như “sân gôn Đồng Mô” được đọc thành [sân cau-phơ đồng mô] cho ra vẻ (chứ chưa chắc!?) mình phát âm tiếng Anh “chuẩn”, mà không hề chiếu cố đến cái tai của biết bao nhiêu người Việt không biết tiếng Anh.
    Có khác gì người Mỹ (biết tiếng Việt) khi đọc một văn bản tiếng Anh thấy cái tên Nguyễn Trãi lại uốn éo cho đúng dấu ngã tiếng Việt mà trong tiếng Anh vốn không có. Đọc như vậy, các cụ ta xưa thường phê phán: “Chửi cha không bằng pha tiếng”. Về điểm này, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) hướng dẫn nhân viên của họ rất kỹ: “...
    Không nên quá nhấn mạnh một số âm vốn chỉ là đặc thù của thứ ngoại ngữ nào đó. Nói cách khác, đừng cố tìm cách phát âm như thể bạn thông thạo thứ ngoại ngữ ấy nếu bạn không thật sự thông thạo” (“Hướng dẫn về phát âm của VOA - Phương pháp luận”).
    Trong những tài liệu phổ cập, nếu e ngại người đọc gặp khó khăn, có thể ghi chữ phiên âm - cách đọc trong ngoặc đơn, ví dụ: Shakespeare (Sếch-xư-pia). Đối với tiếng Việt, không đặt vấn đề dùng cách phiên âm trong văn bản chính rồi đặt nguyên dạng trong ngoặc đơn nữa.
    Hãy xem kinh nghiệm TQ xử lý vấn đề này như sau:
    - Đối với tài liệu thông thường, dùng nguyên dạng rồi đặt chữ Hán (chữ vuông hoặc chữ pinyin) trong ngoặc đơn, ví dụ: Paris [​IMG] hoặc Paris (Balí).
    - Đối với tài liệu dùng cho trường phổ thông hoặc một số tài liệu phổ cập khác, dùng chữ Hán phiên âm rồi đặt nguyên dạng trong ngoặc đơn, ví dụ: [​IMG]: Paris.
    Những nước đã dùng văn tự Latin, viết TRNN theo nguyên dạng, cũng phải bỏ nhiều công sức cho việc phiên âm, nhưng là trong hậu trường, không đưa lên văn bản. Họ dùng phiên âm để buộc những người có nhiệm vụ đọc và nói cho khán thính giả công cộng nghe phải đọc và nói cho thống nhất, không lộn xộn, ai muốn đọc theo kiểu nào thì đọc.
    Chẳng hạn như tên Berne trong “Công ước Berne” sẽ được họ dạy là phải đọc [be-rân] chứ không phải đọc theo tiếng Anh là [bơn] (theo tinh thần “các phát thanh viên tiếng Anh của đài cần cố gắng phát âm tên của một người như thể chính người đó phát âm cái tên đó” - qui định của VOA). VOA có bản hướng dẫn phát âm cho nhân viên của họ hết sức tỉ mỉ, được đưa lên web và bổ sung cập nhật hằng năm.
    Đài BBC cũng dạy cho nhân viên của họ: “Từ ngữ trên giấy không hẳn như từ ngữ ở miệng người phóng viên hay người phát thanh viên...”. Họ cũng dạy nhân viên biên tập viết của họ “viết ra cái gì thì hãy đọc lên cả bằng miệng cũng như bằng mắt. Và hãy chú ý. Nói lên đàng hoàng”.
    * * *​
    Sau khi trải qua một chặng đường dài những thảo luận, tranh luận trên sách báo, trong hội nghị, hình như người ta lại quay lại với một ý tưởng manh nha từ trước đây gần một thế kỷ (1918) trên tạp chí Nam Phong: “... Về các tên đất tên người: nên dịch theo tiếng Tây hay bắt chước chữ Tàu? Cứ lẽ là theo tiếng Tây cả là phải lắm, chỉ trừ những tên người, tên đất riêng của Tàu thì nên đọc theo chữ nho mà thôi...
    Vậy nay tưởng có thể định một lệ chung như sau: trừ tên các đại châu, các bể lớn, cùng mấy cái sông cái núi lớn trong thế giới, đọc theo chữ nho đã quen lắm rồi thì cứ đọc theo như vậy, có muốn rõ khi viết nên chua tên ấy ở bên cạnh, còn hết thảy tên người, tên đất khác trong sách Tây nên đọc theo, viết theo tiếng Tây cả cho có bằng cứ và dễ tra khảo...
    Nếu có sợ những người không thuộc vận Tây gặp những tên Tây như vậy ở giữa bài văn quốc ngữ bị ngắt lại không đọc luôn được, thì dưới mỗi tên Tây nên ngoặc hai cái (...) và chua âm ra chữ quốc ngữ, cũng không phiền gì: như Manchester (Mang-xet-te), Edimbourg (E-đinh-bua)...” (Phạm Quỳnh, Thượng Chi văn tập, NXB Văn Học, 2006, tr. 351-2). Và chính Phạm Quỳnh đã thể hiện ý tưởng này trên các bài viết của ông trong một thời gian dài ở Nam Phong, lúc đó không thấy ai phản đối.
    * * *​
    Các nước đều đã có một (hoặc một số) cơ quan lo việc xử lý TRNN. Chỉ nêu một ví dụ ở TQ, tài liệu chính thức hướng dẫn việc phiên âm tên người nước ngoài là cuốn Đại từ điển phiên dịch tên người thế giới [​IMG]được coi là “sách công cụ phiên dịch tên người qui phạm hóa” do phòng biên dịch và tên riêng thuộc Tân Hoa xã biên soạn (xuất bản lần đầu năm 1993).
    Từ sự thu gom những tên riêng phải dịch để phát tin hằng ngày trong mấy chục năm của các nhân viên biên tập, cuốn từ điển này đến nay đã thu thập 650.000 tên riêng, thuộc trên 100 quốc gia và khu vực. Cuốn từ điển có hai phần: phần 2 là tên người ở các nước Nhật, Cao Ly (Triều Tiên và Hàn Quốc), VN - những nước đã từng hoặc đang dùng chữ Hán, tên người của một số dân tộc ít người.
    VN cũng có vấn đề với cách viết tên riêng của các dân tộc ít người: Đăk Lăk, Đắk Lắk, Đắc Lắc, DakLak, ngay trong trang web của tỉnh cũng lúc thì Đăk Lăk, lúc thì Daklak (chữ l thường - giống như trang web của Sở Giáo dục tỉnh), lúc thì DakLak (chữ L hoa). Công báo của Nhà nước viết ĐăkLăk (viết liền, nhưng lại L hoa) trong khi Kon Tum, Gia Lai viết rời). Các phương ngữ Mân, Việt, các khu vực Đài Loan, Hong Kong, Macao, tên Hoa kiều viết bằng chữ Latin, và tên các danh nhân; phần 1 là tên người nước ngoài thuộc các quốc gia khác.
    * * *​
    Ở VN, có lẽ không nơi nào thích hợp hơn đối với công việc điều chỉnh này bằng thông tấn xã, đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí, là những cơ quan hằng ngày hằng giờ phải đối phó với việc dịch (đặt) TRNN. Và đó cũng là những nơi làm gương, truyền bá hữu hiệu nhất cách viết và đọc TRNN.
    Khởi sự một công việc không mấy dễ dàng này, tất sẽ gặp những trở ngại về mặt ngôn ngữ. Không nên e ngại khi phải mạnh dạn đặt tên mới, như khi phải dịch hoặc phiên âm những trường hợp phức tạp, bởi vì khó có thể đánh giá một từ ngữ nào là hay, là chính xác nếu chưa trải qua sử dụng.
    Có những trường hợp rất kỳ cục, vượt ra ngoài tính toán thuần túy ngôn ngữ học: cường quốc số 1 thế giới thích được gọi tên mình là “nước Cờ Hoa” (Hoa Kỳ, tiếng Hán, có nghĩa là cờ lốm đốm) hơn là “nước Đẹp” (Mỹ, tiếng Hán, nghĩa là “đẹp”) chỉ vì có thời ở VN có nhiều bài báo có đầu đề “Mỹ là xấu”, “Mỹ mà xấu”, cũng như hằng ngày hằng giờ thời đó người ta nghe thấy những câu khẩu hiệu mà từ “Mỹ” (đẹp) lại gắn nhiều với các từ tiêu cực như “xâm lược”, “đả đảo”, “đế quốc”.
    Cần biên soạn một bộ qui tắc phiên âm, và theo đó là một cuốn từ điển TRNN, ban đầu chỉ gồm những chữ “không (mấy) ai phản đối” như Chile, Pháp, Cuba, Einstein, Tây Ban Nha, Osaka, Balzac... sau bổ sung, cập nhật dần, hi vọng rằng sau dăm năm, tình trạng viết và đọc TRNN sẽ bớt lộn xộn dần để tiến tới chỗ mỗi tên riêng chỉ có một cách viết, một cách đọc: viết đúng như gốc, đọc đúng như tiếng Việt, không bị ám ảnh là TRNN nhất loạt chỉ đọc theo tiếng Anh.
    HẢI THỤY
     
  5. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Quí mà không quí

    Người nói những thứ ngôn ngữ chỉ có ngổ với nỉ, I với you, je với tu, vous... chắc thèm có được sự diễn đạt phong phú của cách xưng hô trong tiếng Việt. Nhưng sự phong phú này có lúc cũng gây không ít phiền toái.


    - Trong một bài báo, ba người đàn ông lần lượt được gọi là ông, anh, bạn. Ông là người có chút chức quyền, chưa hẳn đã nhiều tuổi hơn anh; anh là người trẻ tuổi đã đi làm, chưa hơn hẳn bạn về số tuổi; bạn là một sinh viên còn đang học (???).
    Đã có chức quyền rồi thì dù có trở thành tội phạm cũng vẫn được gọi là “ông” (“Cục Cảnh sát điều tra... Bộ Công an đã... bắt tạm giam hai người nguyên là cán bộ Công an TP X phạm tội “nhận hối lộ” và “che giấu tội phạm” là LêXX và VõYY (hai ông này khi phạm tội là cán bộ công an phường ZZZ...). Như vậy, đã có sáu người bị khởi tố, bắt giữ, trước đó là bốn ông: A, B, C, D.”), mặc dù tiếng Việt vẫn còn từ trung tính “người” có thể dùng trong trường hợp này, nếu không muốn dùng “tên”.
    - Đã là đoàn viên thì không được gọi là ông: các bí thư Trung ương Đoàn gần 40 tuổi vẫn chỉ là các “anh”.
    - MC khoảng 30 tuổi rất khó xưng hô với người trạc 48-50, chú-cô hay anh-chị?
    - Đã từng có nhiều ý kiến gợi ý không nên dùng từ “em” để xưng hô thay “tôi” trong quan hệ công cộng giữa những người đã thành niên, như kiểu: “Báo cáo thủ trưởng, em...”, “Thưa sếp, em...” vì e ngại nó làm hư hỏng mối quan hệ, làm hèn kém người tự xưng hô như vậy. Ngày xưa đã có những lúc người ta dùng các từ xưng hô rất hay. Chẳng hạn trong quan hệ thầy và trò: “Trò A, trò hãy lên bảng đọc bài!”. Trong khi đó thì trước đây có hồi học sinh học xong lớp 7, học thêm hai năm trung cấp sư phạm nữa đã ra làm thầy cô giáo cấp II. Với 17, 18 tuổi mà đi dạy ở nông thôn, gặp những học sinh có khi còn lớn tuổi hơn thầy cô, giáo viên nhiều khi rất ngại xưng thầy, cô và gọi học sinh là “các em” (chứ chưa nói đến “các con” như bây giờ).
    - Ở những ngôn ngữ mà từ xưng hô đơn giản (I, you, je, tu+vous), cách thưa gửi cũng đơn giản theo. Phát thanh thì “Các người nghe (listener) thân mến”, truyền hình thì “Các người xem (viewer) thân mến”, không bị xen yếu tố tình cảm như “Thưa quí vị và các bạn”. “Vị” được phân biệt với “bạn” ở mức độ tôn kính hay thân mật, chứ không phải ở tuổi tác, giới tính. Mà đã đủ chưa? Có ai bị lọt lưới, không nằm trong hai từ “vị” và “bạn” không (các cháu nhỏ chẳng hạn, chẳng lẽ không mời các cháu xem? Hay các phạm nhân trong nhà tù, có cho họ xem không? Họ là “vị” hay “bạn”?)? “Quí” chỉ có nghĩa là “số nhiều” (= các) hay có nghĩa là “đáng tôn quí” (= honorable)?
    - Ai là “phu nhân”? Ai là “vợ”? Chủ tịch nước, tổng thống, thủ tướng và phu nhân, bộ trưởng và (phu nhân hay vợ?), chủ tịch thành phố/tỉnh và (phu nhân hay vợ?), nhà văn nổi tiếng (như Nguyễn Tuân chẳng hạn) và (phu nhân hay vợ?). Nếu tôi (một người thường) giới thiệu vợ tôi với các bạn: “Đây là phu nhân của tôi” thì phản ứng của người nghe sẽ như thế nào? Trên báo chí, có cả phu nhân của danh thủ Beckham, của huấn luyện viên A.Riedl, của hàn lâm viện đại học sĩ Vương Khả Lãm, hoặc khi dịch từ nước ngoài “lady” (phu nhân Macbeth ở Mtsensk)
    - Ngài và ông cũng là một mặt của vấn đề phu nhân vừa nói ở trên. Lằn ranh nào cắt ngài/phu nhân với ông/bà/vợ?
    - Có phải vì những sự lúng túng trên đây mà thời Pháp thuộc, nhiều người Việt thích dùng cách xưng hô “toa<->moa”, và các chatter ngày nay thích dùng “u<->me”?
    Thường trong quan hệ cá nhân, mọi người đều có quyền tự do muốn gọi ai là gì cũng được. Nhưng trong các tổ chức xã hội, nếu hệ thống tổ chức càng chặt chẽ, càng đòi hỏi có hệ thống xưng hô của riêng mình.
    - Trong các băng nhóm: “đại ca <-> tiểu đệ”...
    - trong các tôn giáo: trình, bạch,... “hòa thượng/đức cha <-> con”, “đạo hữu<->tôi”,...
    - trong sinh hoạt Đảng Cộng sản xưa nay vẫn chỉ có “đồng chí <-> tôi”, mà mọi người vẫn cảm thấy bình thường,
    - trong sinh hoạt quân đội, đoàn thể, lúc đầu cũng chỉ có “đồng chí <-> tôi”, nhưng lâu dần về sau xuất hiện đủ các cách xưng hô như ngoài đời, minh họa cho các kiểu quan hệ mà người ta muốn có.
    ***​
    Xưng hô không phải chỉ là vấn đề ngôn ngữ. Nó mang nặng tính tâm lý. Nó có khả năng xoay chuyển tình thế. Nó có nội dung thông báo nhiều hơn ngôn ngữ thông thường. Hãy quan sát hai người bạn: khi còn ngồi chung ghế nhà trường: ông<->tôi, cậu<->mình, cậu<->tớ, mày<->tao, khi ra trường rồi: chỉ còn ông<->tôi, cậu<->mình; đến khi một trong hai hoặc cả hai người đã có chút chức quyền thì lập tức chuyển tông: anh<->tôi.
    Ý thức được vấn đề như vậy, không biết các tổ chức xã hội lớn có nghĩ đến chuyện tự qui định cho mình một lối xưng hô bắt buộc, như có thời trong quân đội đã có gợi ý chỉ dùng từ “tôi” để nói về mình. Chắc chắn rằng không ai cải cách nổi lối xưng hô phong phú trong tiếng Việt ngoài xã hội. Song vì những mục đích cụ thể nào đó, tại sao không thể có những qui định của từng tổ chức? Những qui định chặt chẽ về xưng hô là bằng chứng của trình độ tổ chức.
    HẢI THỤY
    (Nguồn: Tuổi Trẻ Cuối Tuần, http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=197764&ChannelID=13)
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/01/2009
  6. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Cả nước ngọng ?

    Hai cô gái ăn mặc đúng mốt, xinh đẹp nữa, bước vào quán cà phê, buông lửng câu: "Cho hai lâu". Câu nói đã trở thành đề tài tranh luận nảy lửa giữa tôi và anh bạn cùng chứng kiến cảnh tượng đó. Bạn tôi dứt khoát cho rằng hai cô là dân nông thôn; lập luận đơn giản: vì các cô nói ngọng n thành l.
    Còn tôi: hai cô đích thị là dân Hà Nội, thậm chí Hà Nội Hoàn Kiếm nữa, vì: 1) mốt ăn mặc rất hiện đại, 2) biết vào quán cà phê thưởng thức cà phê nâu và ngồi lâu, 3) biết sử dụng từ ngữ rất “Hà Nội”: cà phê nâu chứ không phải cà phê pha tí sữa. Còn vấn đề n, l thì ta hãy xem...
    Cứ giả thiết rằng vào một cái thời xa xưa nào đó cũng có hai cô gái như trên, người kinh kỳ, bước vào một quán nước và nói:
    - Bán cho cháu một tiền xắn.
    Mà lúc đó người dân kinh kỳ nói là sắn (s nặng, uốn lưỡi). Một cụ bạn của cụ cố tôi cũng tranh luận với cụ cố tôi như anh bạn tôi tranh luận với tôi về cái sự nói “ngọng” x với s. Cứ như thế, với ch và tr, với d, gi và r (chưa kể ay, ây, ươu, iêu...) những cặp âm giống nhau cứ bị những người “ngọng” và những người không “ngọng” mà muốn làm ra “ngọng” nhập làm một. Ngày nay, lẫn x với s, ch với tr, d và gi với r (xin nhớ cho về mặt phát âm chứ không phải chữ viết), không người miền Bắc nào thấy hề hấn gì, thậm chí nếu cố tình uốn lưỡi s, tr và r còn làm người nghe khó chịu nữa (tôi đã có một ông thày (hay thầy?) đáng kính, cho đến lúc tôi học trung học, thày vẫn cố đọc thật đúng x/s, ch/tr, d, gi/r trong lớp; thật ra có đúng như thế không, ai nói như thế, hay chỉ là cách để nhớ chính tả?
    Người miền Nam không “ngọng” x/s, ch/tr, d, gi/r nhưng lại “ngọng” những cái khác: muốn và muống, biết và biếc, sửa và sữa, tay và tai... Ở miền Bắc, có một số địa phương nói n thành l, một số khác lại nói l thành n, và tất cả mọi người trong địa phương đều nói như thế. Như vậy thì một là cả nước nói “ngọng”, hai là chẳng ai “ngọng” cả. Chỉ có mấy anh chàng đứng xem chuông của Hồ Xuân Hương (?) mới thật là anh ngọng: “... ấy ái uông”.
    Cái “ngọng” của cả nước hình như không có hại gì, mà đôi khi lại còn đáng yêu nữa: nó mở rộng khả năng chơi chữ, hiểu ngầm, tăng thêm ý nhị, duyên dáng cho lời nói. Cà phê lâu (có thể ngồi lâu), vỏ sỉ (= võ sĩ) không bằng vỏ chai (giỏi võ đến mấy mà bị người ta lấy vỏ chai đập cũng chết), võ sĩ hạng có đai không bằng dao phai (= dao phay, ăn vần đai với phai) gí sau gáy, trò giăng dện... Tất nhiên, nếu bới ra, cái lợi đôi khi cũng bị phản chứng bằng cái hại, chẳng hạn nói “ngọng” n/l trong những trường hợp nông cụ, nông sản phụ, hay “ngọng” ch/tr trong cô Châu hay cô Trâu, ông Trực hay ông Chực...
    Có người vẫn thường cho rằng chỉ cần người Hà Nội nói đúng các âm s, tr và r là tiếng Hà Nội sẽ trở thành tiếng chuẩn lý tưởng của cả nước. Ấy thế mà bỗng chốc nay lại thêm vấn đề n/l. Phát âm thường tiến hóa theo hướng ngày càng dễ đi, đơn giản đi, chỉ với điều kiện duy nhất là không gây hiểu lầm trong giao tiếp. Những gì đã tiến hóa mà trụ lại được, chắc chắn sẽ không lùi lại những hình thái quá khứ của nó để trở nên phức tạp hơn, khó hơn.
    Để kết luận bài này, tôi cũng xin bắt chước cụ Nguyễn Du để hỏi rằng: “Không biết hơn 300 năm nữa, trong thiên hạ có còn ai đọc Kiều với cái âm như hiện nay nữa không?”. Xin để cháu chắt chút chít của chúng ta trả lời. Còn bây giờ, những người “ngọng” xin hãy yên tâm: cả nước “ngọng” kia mà! .
    HẢI THỤY (Tuổi trẻ 26/05/2007)


    (bài của luckylac trên Diễn đàn cũ)
     
  7. tandai

    tandai Tự hành lữ khách...

    Bàn về dấu chính tả trong thơ


    Thực ra thì câu chuyện này tồn tại từ hàng trăm năm rồi, nhưng ngỡ như không thể bàn luận, bởi đấy là quyền tự do sáng tạo của mỗi cây bút, mỗi nhà thơ. Thế nhưng mấy chục năm gần đây, trong phong trào thơ phát triển ồ ạt, liên kết xuất bản phóng túng và rộng rãi, thấy quá nhiều tác giả lạm dụng quyền tự do chính tả trên ô giấy của mình, gây phản cảm cho người đọc.
    Tôi có một anh bạn mới cho in tập thơ đầu tay, trong đó có bài thơ “Khóc cha”. Anh viết: Cha ơi!!! Sao nỡ bỏ con?/ Bây giờ con biết vuông tròn với ai?. Người ta nói, thơ bầu bạn quí ở tâm sự, thơ trai gái quí ở sự hào hoa, thơ điếu phúng quý ở sự thành thực. Tôi tin những câu thơ điếu của bạn là thật. Tuy nhiên, một cái chấm than là đủ, ba cái chấm than là quá. Dòng thứ nhất là câu than chứ không phải câu hỏi, phải bỏ dấu hỏi đi.
    Một trường hợp khác, nhà thơ N. viết: Kẽo kẹt… kẽo… kẹt võng đưa. Tôi hiểu dụng ý của tác giả muốn dùng tiếng tượng thanh để tả cho đúng, bắt người nghe nghe cho được tiếng võng. Nhưng những dấu ba chấm của anh chỉ gây rối mắt. Ở đây, tôi xin nói ngay rằng, với dân tộc nào cũng vậy, tiếng tượng thanh chỉ mô tả được cái na ná như âm thanh có thực, chứ làm sao thực được. Chẳng hạn, tiếng sóng vỗ vào bờ ở chỗ không bằng phẳng người ta ghi là vỗ ì oạp. Tiếng oạp thì hơi giống, nhưng tiếng ì, e chỉ là tiếng đệm thôi.
    Một bạn thơ khác, anh C.N trong bài thơ bốn câu, viết: Mây xanh, mờ núi, vút thông reo/ Vạn Kiếp, Côn Sơn, dậy hịch truyền/ Ức Trai, chí dũng, ngàn năm tuổi/ Thế núi, rồng chầu, một cõi tiên. Chỉ có bốn dòng mà anh tốn đến tám dấu phẩy. Có cần thiết như thế hay không? Hiệu quả của các dấu phảy ấy là gì? Nếu bỏ đi có hại gì cho ngữ nghĩa, cho âm thanh bài thơ?
    Và một câu hỏi tổng quát: Có lý luận chung cho việc sử dụng dấu chính tả trong thơ Việt Nam hay không?
    Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử phát triển của thể loại. Thơ tự do mới có ở ta chưa đầy một thế kỷ. Thơ văn xuôi còn mới mẻ hơn. Thơ ca ta hàng nghìn năm là các thể thơ ổn định. Tựu trung lại thì có hai loại: các thể thơ truyền thống chẵn chữ: 4 chữ (thực phải gọi là âm), thơ 6 chữ (các cụ gọi là lục ngôn), lục bát. Đến đầu thế kỷ XX thì thêm thơ 8 chữ (từ chỗ cải tiến các câu hát bỏ bộ và hát ca trù). Loại thứ hai là các thể thơ lẻ chữ xuất phát từ thơ Đường (ngũ ngôn, thất ngôn bát cú, thất ngôn trường thiên). Các thể thơ ấy dường như không dùng đến dấu phảy, dấu chấm câu. Các dấu chính tả khác cũng rất ít được dùng. Lý do nằm ở nhịp thơ sẵn có trong thể loại. Nhịp thơ là tiết tấu ngừng hơi (lặp đi lặp lại) trong nội bộ một câu thơ và giữa các câu thơ.
    Các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh… và các nhà thơ thời kỳ Thơ Mới rất ít dùng dấu chấm, dấu phẩy là bởi họ nắm rất vững tiết tấu, âm luật của thơ truyền thống.
    Trở lại với dấu hỏi (?) và dấu chấm than (!). Mở tập thơ “Buổi sáng cho em” do một nhà xuất bản ở Hà Nội mới ấn hành, tôi bắt gặp hai dòng thơ sau đây: Con sông đang chảy về đâu?/ Mà em ngồi đó buồn rầu thế em. Câu thơ có ý. Giá như dòng nước ngừng lại, đằng này sông cứ trôi đi làm tăng thêm sự cô đơn của cô gái. Nhưng ở dòng thứ nhất là câu hỏi vu vơ. Các nhà ngôn ngữ gọi là câu hỏi phiếm chỉ, không có đối tượng để hỏi, không bắt ai phải trả lời. Đã thế thì phải bỏ dấu hỏi đi. Đừng bắt bạn đọc hiện trong đầu câu trả lời lẩm cẩm: nó trôi về biển chứ trôi về đâu nữa! Dấu hỏi ấy làm gián đoạn cảm xúc của người đọc.
    Cũng tương tự như câu hỏi phiếm chỉ, trong thơ còn có câu hô phiếm chỉ, câu ứng phiếm chỉ. Bạn N.V.P trong bài thơ “Trở lại sông Thao” viết: Ơi quê hương hôm nay ta trở lại/ Rặng tre không còn soi bóng xuống lòng sông. Tiếng ơi ở dòng thơ trên tương đương với tiếng ôi. Tác giả chỉ thốt lên, kêu lên vậy thôi chứ không định gọi vào đối tượng nào. Để dấu chấm than sau âm đầu làm câu thơ bị giật cục, mạch thơ dãn.
    Nói một cách bao quát thì ngữ pháp thơ cũng có khác chút ít với ngữ pháp nói chung và dấu chính tả trong thơ cũng có phần khác biệt với dấu chính tả trong văn xuôi. Đặc điểm nổi bật của dấu chính tả trong thơ là tính áp đặt của người viết đối với người đọc (bắt người ta phải ngừng hơi, bắt người ta phải kéo dài giọng, bắt người ta phải vui, phải buồn, phải hô, phải la… cùng mình). Thế mà thơ lại cần sự đồng thuận, đồng cảm giữa người viết và người đọc. Và nếu đúng thế thì các nhà thơ khi sử dụng dấu chính tả phải e dè, phải cẩn trọng lắm mới phải[​IMG]

    (Theo: Phạm Tiến Duật)



    (bài của luckylac trên Diễn đàn cũ)
     

Chia sẻ trang này