Ai là người đầu tiên?

Thảo luận trong 'TRI THỨC BỐN PHƯƠNG' bắt đầu bởi truongluu1575, 12/10/2009.

  1. Keane

    Keane Ong tìm mật

    Ai là người đầu tiên ...ai đã phát hiện ra cà phê?

    ai đã phát hiện ra cà phê?

    Không ai biết chính xác tên của con người hạnh phúc đã được trải qua những cảm giác bồi hồi khi nhấp ngụm cà phê đầu tiên. Chỉ biết rằng về lịch sử xuất xứ của cà phê cũng có thật nhiều huyền thoại. Một trong số những huyền thoại kể lại rằng một ngàn năm trước đây một người dân Abixini (bây giờ là Ethiopía) đã để ý đến hương thơm đặc biệt bốc lên từ một bụi cây đang cháy. Anh ta bèn nhặt của mấy quả trong bụi cây và nếm thử, thấy ngon bèn mang đun lấy nước uống. Anh ta đâu có biết rằng mình vừa khám phá ra một điều hết sức kỳ diệu, vì đó chính là ly cà phê đầu tiên trên thế giới - một thứ nước uống sẽ mãi được con người ưa chuộng.
    Vậy là những người đầu tiên biết đến cây cà phê và hương vị thơm ngon củ nó là những người dân Abixini, sống ở phía đông của Châu phi. Cho đến thế kỷ thứ XV chỉ có ở đó mới có cây cà phê. Về sau người ta mới đưa giống cây cà phê sang trồng ở các nước ả rập. Trong vòng 200 năm sau đó từ bắc ả rập và Yemen, cây cà phê được trồng rộng rãi trên khắp các nước trên thế giới.
    Vào thế kỷ XVII Đan mạch bắt đầu trồng cà phê trên đảo Java, rồi từ đó nó được đưa sang gieo trồng tại các nước nhiệt đới khác. Cây cà phê cũng được biết đến ở Anh và Mỹ sau khi người Anh lấy giống cà phê từ đảo Java.
    Các cây cà phê mọc chủ yếu ở các nước có khí hậu nhiệt đới. Tuy nhiên điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của cây cà phê là những vùng đất cao và khô ráo. Loại đất trồng và khí hậu thích hợp đó người ta đã tìm thấy ở vùng núi tại Braxin.Chính vì vậy ngày nay 3/4 sản lượng cà phê trên thế giới thuộc về đất nước này. ở đây có những đồn điền cà phê lớn nhất thế giới. Có những đồn điền có tới hàng triệu cây cà phê và trải dài nhiều kilômét. Ngoài ra cây cà phê có nhiều ở Venexuela, Guatemala, Mexico, và ở một số vùng thuộc Tây ấn độ và đảo Java.
    Những tên gọi như “Mocco”, “Java” trước đây dùng để chỉ nơi trồng cà phê thì nay chúng được dùng để gọi tên các loại cà phê. Cả hai loại này đều là của Braxin, chúng cũng nổi tiềng như cà phê “Rio” và “Santos”. Cảng xuất khẩu cà phê lớn nhất của Braxin là cảng Santos.
    Quả cà phê trông giống như quả anh đào, mọc trên những bụi cây cao và có lá óng ánh. Trong mỗi quả cà phê có một hoặc hai hạt dính vào nhau.
    Mặc dù có hơn 25 loại cây cà phê, song chỉ có hai trong số đócho quả có hương thơm mỗi khi ta rang chúng lên.
     
    1 person likes this.
  2. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    Ai đã làm ra đàn dương cầm
    Các bạn có biết đàn dương cầm là nhạc cụ phức tạp nhất trong các loại nhạc cụ không? Đây cũng là loại nhạc cụ có âm giai phong phú nhất. Nguồn gốc của loại nhạc cụ này là một loại đàn hộp độc dây (có một dây) trên đó phân ra các quãng nhạc. Nó cũng giống như chiếc đàn Ximbalium thời Cựu Ước Kinh. Các nhạc cụ này đều phát ra âm thanh bằng cách gảy dây đàn. Vào khoảng năm 1000 ông Giuđô de arezz đã cải tiến hộp đàn này bằng cách tăng thêm số dây và phím. Ngoài ra ông còn lắp thêm phần bánh xe để có thể di chuyển được một cách thuận tiện. Những chiếc đàn như thế còn tồn tại cho đến tận thế kỷ XVI. Một trong những nhạc cụ được cải tiến từ đàn độc dây là Klavicord. Nhạc cụ này có thêm một chi tiết bằng đồng nữa là “bàn đạp”. Mỗi khi người nghệ sỹ đánh một bản nhạc ngoài việc gõ lên những bàn phím giờ đây anh ta còn để chân lên bàn đạp và phụ thuộc vào độ nhấn chân mạnh hay nhẹ của người nghệ sỹ mà tạo ra những độ rung khác nhau của các đây đàn. Một nhạc cụ khác rất giống với klavikord là đàn Spinet, một loại nhạc cụ khá dài với âmvực là 4 quãng tám. Cũng như những nhạc cụ đẫ nêu ở trên đàn Spinet cũng phát ra âm thanh bằng cách gảy dây. Đến giữa thế kỷ XVII có một loại nhạc cụ mới đã xuất hiện có tên là đàn Klavexin. Loại đàn này to hơn đàn Klavikord và Spinet và thường có hai bàn phím. Về hình dáng nó trông giống chiếc đàn dương cầm lớn. Âm thanh của nó được phát ra từ bằng cách dùng những sợi lông vũ nhỏ xíu để kéo những sợi dây đàn. Cuối cùng vào năm 1709 ông Bartolomeo Chritstofory đã nghĩ ra hệ thống “những chiếc búa nhỏ” và biến cây đàn Klavexin thành một nhạc cụ mới có tên là Fortepiano (đàn dương cầm). Nhờ có hệ thống búa này mà cây đàn không còn phát ra những âm thanh kèn kẹt như trước nữa. nhạc sỹ đầu tiên đưa đàn dương cầm lên ngôi chính là Bethoven.
     
  3. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    Ai đã chế tạo thuốc nổ Dynamite
    Việc phát hiện ra thuốc nổ là một trong những phát kiến vô cùng quan trọng trong lịch sử loài người. Người ta vẫn cho rằng người Trung quốc đã tìm ra thuốc nổ từ trước công nguyên trong khi đó người Châu Âu chỉ bắt đầu sử dụng thuốc nổ từ thế kỷ thứ 14 và sau đó thuốc nổ đã gây được tiếng vang lớn trên toàn trái đất. Thuốc nổ kiểu cũ đó là một hỗn hợp của kali nitrát, than gỗ và lưu huỳnh, loại thuốc nổ này phổ biến rộng rãi khắp nơi trên trái đất cho đến cuối thế kỷ 19. Vào năm 1845 nhà hoá học người Đức tên là Senbain đã làm một thí nghiệm với sợi tơ và hỗn hợp axít nitơric và axít xunphuric đậm đặc, kết quả đã thu được một sản phẩm tơ trắng giống như bông và nổi tiếng đến ngày hôm nay như là nitro xenluloza hay là pirocxilin và đó chính là thuốc nổ. Gần như cùng thời gian đó một người ý có tên là Axcanio Sopbrero đã làm thí nghiệm với gliserin. Ông cẩn thận nhỏ từng giọt glyserin vào dung dịch axít nitơric và axits sunphuric đậm đặc, kết quả thu được là một số lượng nhỏ nitro glyserin có khả năng gây nổ lớn hơn pirocxilin. Hai mươi năm sau nhà hoá học người Thuỵ Điển tên là Afrecnoben đã tình cờ tìm ra thuốc nổ, ông cũng làm thí nghiệm với nitro glysilin và nhận thấy rằng chất này rất dễ gây nổ trong quá trình sản xuất và vận chuyển mặc dù Noben đã tìm ra được cách thu đuợc nitro glyserin an toàn hơn tuy nhiên việc sản xuất ra nó vẫn không phải là đãhết nguy hiểm. Một lần Noben lấy một vài bi đông đựng nitro glyserin từ những hộp có điatomít và ông nhận thấy rằng những chiếc bi đông bị rò dỉ hỗn hợp chất nitro glysilin và diatomít đã tạo thành một chất cứng. Vậy là thật tình cờ Alfred Noben đã tìm ra một loại thuốc nổ mới ít nhạy cảm hơn với các sự va chạm.
     
  4. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    Ai đã viết bách khoa thư đầu tiên
    Mỗi khi cần tìm hiểu một thông tin cần thiết chúng ta thường tìm đến sự giúp đỡ của những cuốn bách khoa toàn thư, vì chúng thường chứa đựng đầy đủ (hoặc gần như đầy đủ) thông tin về mọi vấn đề và con người quan tâm về khoa học kỹ thuật, văn hoá nghệ thuật hay về tiểu sử và sự nghiệp của những con người nổi tiếng. Từ bách khoa toàn thư (encyclopedia) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là những hướng dẫn, những chỉ dẫn trong mọi trường hợp trong cuộc sống. Một người Anh tên là Tomas Eliot đã “đem” từ “encyclopedia” này vào tiếng Anh và giải mã cuốn sách của mình là “Cuốn sách giải thích các sự vật và các kiến thức phổ biến”. Nhưng cuốn bách khoa toàn thư ngày nay thường được sắp xếp theo trật tự của bảng chữ cái để dễ tra cứu. Còn thời xa xưa thì các tác giả soạn bách khoa toàn thư không theo một trình tự nào cả. Ví dụ tác giả đã mở đầu quyển bách khoa toàn thư thời Trung cổ của mình bằng một câu chuyện về chúa và các thần thánh, còn kết thúc bằng một bài miêu tả các loại hoa, hương thơm và danh sách 30 loại trứng khác nhau. Cuốn từ điển bách khoa toàn thư cổ xưa nhất mà chúng ta biết đến ra đời vào thế kỷ 1 trước công nguyên ở La Mã. Tác giả của nó là ông Plinhius có tên là “lịch sử tự nhiên” gồm 37 tập với hơn 20.000 mục từ. Trong cuốn từ điển báchkhoa này Plinhius có lấy các trích dẫn của hơn 450 tác giả. Người ta đã rất quý bộ sách này và cho đến năm 1530 nó đã được tái bản tới 43 lần. Bộ từ điển bách khoa lớn nhất trên thế giới là bộ bách khoa toàn thư Trung Quốc thứ 3, nó được biên soạn theo sáng kiến của một vị hoàng đế Trung Quốc mất vào năm 1721 gồm 5020 tập. Cha cố Jonh Harris là tác giả của cuốn bách khoa toàn thư đầu tiên có cấu trúc theo trình tự bảng chữ cái ra đời vaò năm 1704 có tên là “từ điển bách khoa toàn thư khoa học và nghệ thuật Anh”. ở Pháp vào năm 1743 đã xuất bản cuốn “Encyclopédie”. Có nhiều nhà khoa học lớn tham gia biên soạn bộ sách này như Vonte, Russo, Đidro và điều đó đã làm cho bộ sách sáng giá hơn. Cuốn “Bách khoa tiếng Anh” hay “từ điển nghệ thuật và khoa học” lần đầu tiên được in ở Xcotlen vào năm 1768. Từ năm 1911 nó đã được xuất bản ở Mỹ.
     
  5. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    Ai đã xây chiếc cầu đầu tiên
    Những cây cầu đã ra đời từ rất lâu rồi vì nó vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người. Hầu hết mọi lúc mọi nơi con người luôn phải tìm cách bắc cầu để vượt qua một con sông hay dòng suốt nào đó. Có lẽ chính tạo hoá đã mách bảo cho con người về ý tưởng xây dựng cây cầu khi có một cái cây đổ ngang qua dòng suối. Con người đã dễ dàng phát hiện ra ý tưởng bắc một cái cây làm cầu để vượt qua một con suối. Những cây cầu đầu tiên chắc hẳn cũng là những cây cầu gỗ và người nguyên thuỷ đã sử dụng nó trong một thời gian rất dài cho đến khi những người thợ chưa nghĩ ra cách đắp đá ở giữa dòng chảy để bắc những cây gỗ vào hai bên bờ và đó được gọi là những cây cầu với một mố cầu chưa hoàn chỉnh. Bước tiếp theo trong nghành xây dựng cầu là một vài mố cầu được xây dựng và được nối với nhau bởi các xúc gỗ hoặc những phiến đá. Hai thanh gỗ được đặt song song với nhau và trên mặt cầu người ta rải các giầm ngang để làm mặt cầu. Những cây cầu kiểu như thế rất giống với những cây cầu bắc qua các dòng chảy nhỏ trong các làng mạc bây giờ. Những chiếc cầu bắc qua những con sông lớn ngày nay được xây dựng bằng sắt hoặc bằng thép. Những nhịp cầu không cần phải dài lắm nhưng ở những nơi nhất định phải có mố cầu thì có thể xây dựng được cầu với độ dài nhất định. Chính vì vậy mà rất nhiều cây cầu đường sắt trên cạn là những cái cầu xà. Mỗi câycầu có hai phần chính là xây các nhịp cầu và các mố cầu. Các mố cầu cần phải rất chắc chắn vì nếu nó bị lún hoặc bị mòi mòn bởi nước thì cả chiếc cầu sẽ sập. Ngày nay những người kỹ sư cầu đường cố gắng chôn các mố cầu thật sâu. Ví dụ như khi xây cây cầu Iyz bắc qua sông Mitshishipi ở thành phố Sanh Luy (bang Misuri) các mố cầu được trôn sâu 40 mét so với mặt nước biển, còn các mố cầu của cầu chạy qua vịnh giữa Sanfransico và Ôcland thì sâu tới 70 mét.
     
  6. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    Ai đã xây ngọn hải đăng đầu tiên
    Liệu chúng ta có thể hình dung 1 con đường lại không hề có bất kỳ tấm bảng chỉ đường, các ngã tư, các lỗi rẽ...? Tất nhiên là những con người trên biển cũng cần có những dấu hiệu như thế. Và ngọn hải đăng là một trong số chúng. ánh sáng của nó giúp những thuỷ thủ tìm đường vào cảng, xác định vị trí của mình trên biển và ánh sáng của ngọn hải đăng còn có tác dụng báo hiệu cho những con tàu những nơi có đá ngầm, vách đá. Những ngọn hải đăng đầu tiên là những ngọn tháp nhỏ trên đỉnh có những giỏ kim loại bọc ngọn đuốc đang cháy. Có lẽ nó có từ hàng ngàn năm nay từ khi con người bắt đầu ra khơi xa. Không ai biết đích xác những ngọn hải đăng đầu tiên xuất hiện ở đâu chỉ biết rằng vào thế kỷ thứ VII trước công nguyên đã có một ngọn hải đăng rất nổi tiếng ở trên mũi Seegaum gần Gellesponto. Còn ngọn hải đăng được nhiều người biết đến nhất và được coi là một trong bảy kỳ quan thế giới là ngọn hải đăng Faros ở thành phố Alecxandria (Ai Cập). Ngọn hải đăng này mang tên hòn đảo nên nó ngự trên đó. Ngày nay người ta ước tính giá của nó là một triệu USD. Vào thế kỷ thứ III trước công nguyên ngọn lửa trên đỉnh của nó chiếu sáng chỉ đường cho các con tàu vào thành phố Alecxandria. Người La mã cổ cũng xây rất nhiều ngọn hải đăng, ví dụ như ở Bulon (trên lãnh thổ nước Pháp bây giờ). Ngọn hải đăng ở đây làm việc tới tận thế kỷ XVII. Đó là những ngọn hải đăng nhỏ và không được xây dựng tốtnhư những ngọn hải đăng hiện đại. Ngày nay ở mỗi quốc gia có bờ biển đều có một uỷ ban trong chính phủ theo dõi việc xây dựng và sử dụng các ngọn hải đăng. Khi những ngọn hải đăng được xây dựng trên cạn thì cấu tạo của nó rất đơn giản và giá thành rất rẻ. Nhưng khi nó được xây dựng trên các ghè đá, thường xuyên bị sóng đánh vào thì lại đòi hỏi thiết kế rất phức tạp. Các tháp hải đăng được xây dựng từ các loại đã cứng như đá hoa cương, hoặc từ bê tông cốt sắt.
     
  7. Keane

    Keane Ong tìm mật

    ai đã phát minh ra nguyên tử?
    Những người Hy Lạp cổ cho rằng vạn vật đều cấu tạo từ các nguyên tử. Thực chất, từ "nguyên tử" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là không thể chia được. Người Hy Lạp cổ cho rằng nếu đem chia một vật ra cho đến khi nào không thể chia được nữa thì phần thu được gọi là nguyên tử. Mặc dù ngày nay chúng ta biết rằng người Hy Lạp cổ rất có lý khi nghĩ như vậy, song chúng ta không thể khẳng định là chính họ đã tìm ra nguyên tử. Vì niềm tin của họ vào nguyên tử không có căn cứ khoa học, không xuất phát từ bất cứ thông tin khoa học nào và không khẳng định được nó. Đó chỉ đơn giản là những "tư tưởng triết học" về thế giới và sự tồn tại. Nguyên tử được phát minh ra trên cơ sở của các nghiên cứu và lý thuyết khoa học. Vào đầu thế kỷ XIX chỉ có những nhà triết học nghiên cứu các câu hỏi về cấu tạo của vật chất và thực thể. Về sau này vào năm 1803 có nhà hoá học, toán học người Anh John Dalton là người đầu tiên phát triển lý thuyết khoa học về nguyên tử. Dalton là một nhà thực nghiệm vô cùng cần
    mẫn. Ông tỷ mỉ cân các mẩu của các chất khí và nhận thấy sự khác nhau về khối lượng của chúng. Ông cũng thấy rằng chất khí cũng như các chất rắn và chất lỏng được cấu tạo từ những phần rất nhỏ và ông gọi đó là các nguyên tử. Ông Dalton đã tính được khối lượng tương đối của nguyên tử của các nguyên tố nên ông ta biết. Khi Dalton xác định được rằng các nguyên tử của những nguyên tố khác nhau có cấu tạo và khối lượng khác nhau, thì ông ta thực sự đã đặt nền móng cho những khám phá về nguyên tử. Tuy nhiên cho đến lúc đó vẫn chưa có được giải thích chính xác thế nào là nguyên tử và vai trò của nó.
    Gần 100 năm sau một nhà khoa học khác người Anh tên là Ernétxtô Rezerford đã xây dựng lý thuyết về nguyên tử dựa trên sự miêu tả hệ mặt trời : một hạt nhân ở giữa tích điện dương và bao quanh bởi các electron tích điện âm.
    Ngày nay các nhà bác học cho rằng nguyên tử được cấu tạo từ các electron, frôtôn, neitrôn, pozitron, netrino, mezon, hyperon. Tóm lại, ta đã tìm ra hơn 20 phần khác nhau trong cấu tạo các nguyên tử. Tuy nhiên có một điều kỳ lạ là cho đến nay vẫn chưa có một lời giải thích đầy đủ về nguyên tử.
     
  8. Keane

    Keane Ong tìm mật

    ai đã sáng tạo ra máy bay?
    Đôi khi các phát minh bắt đầu từ những ý tưởng. đầu tiên trong đầu ta nảy ra ý định phải chế tạo ra một loại máy móc hay thiết bị nào đó thế rồi sau đó mới bắt tay vào thực hiện ý đồ.
    đối với con người thì ý tưởng chế tạo ra chiếc máy bay có lẽ là một trong những mơ ước đầu tiên và cao cả nhất. ý nghĩ về những chuyến bay đã làm cho con người phải điêu đứng từ xa xưa. Xung quanh ước mơ được bay của con người có biết bao huyền thoại. một trong những huyền thoại được nhiều người nhớ nhất là câu chuyện về irca, vì muốn bay lên không trung đã dùng sáp gắn lên mình đôi cánh. Khi bay gần đến mặt trời vì quá nóng nên sáp đã chảy ra làm irca ngã xuống và hy sinh. Mặc dù con người quả cảm ấy đã chết, nhưng ước mơ cao cả của con người là được bay vào vũ trụ bao la thì mãi còn ở lại. Hình ảnh irca chính là biểu tượng cho niềm khát khao vươn tới những đỉnh cao của con người.
    Leonard Di Vanchi không chỉ là một hoạ sỹ tài ba mà còn là một nhà sáng chế. ông đã để lại cho đời những bức phác hoạ của thiết bị bay sử dụng sức lực cơ bắp của con người. Ngoài ông ra còn biết bao nhiêu những người khác nữa hàng trăm năm trước đây cũng từng sống với ước mơ được bay.
    Những thiết bị bay đầu tiên không có công suất riêng của mình. Thực ra đó chỉ là những chíếc diều hay những chiếc tầu lượn khổng lồ. Vào thế kỷ XIX người ta đã làm rất nhiều cuộc thí nghiệm với những thiết bị bay thô sơ ấy.
    Nhưng cho đến lúc bấy giờ vẫn chưa có ai làm ra được thiết bị bay nặng hơn không khí và có công suất riêng. Một vấn đề được đặt ra là liệu có thể làm ra được một thiết bị như thế không? Người đầu tiên chứng minh rằng điều đó có thể thực hiện được là giáo sư Samuen Langly làm việc tại trường đại học Smíthson ở Washington. Ông đã thiết kế ra hai thiểt bị bay, mỗi chiếc dài 4,5m và rộng 3,5m, chạy bằng động cơ hơi nước có công suất là 1,5 mã lực. Vào năm 1896 hai thiết bị này đã thực hiện thành công những chuyến bay đầu tiên. Tuy nhiên chuyến bay thử nghiệm của chiếc máy bay có kích thước lớn hơn đã không thành công. Nó đã bị nổ tung vào ngày 07/10/1903.
    Ngày 17/12 cùng năm anh em nhà orvil và Wilbur Right đã thực hiện thành công chuyến bay bằng thiết bị bay nặng hơn không khí và có công suất riêng. ở Kitty Hoke (bang Bắc Carolina) họ đã bay lên độ cao 30m trong vòng 12 giây, và lần thứ hai - 260m trong 59 giây. Thế là chiếc máy bay đầu tiên đã ra đời và ước mơ cao cả của con người đã được thực hiện.
     
  9. Keane

    Keane Ong tìm mật

    ai đã sáng tạo ra tầu ngầm?
    đã từ rất lâu con người ước mong có thể chuyển động dưới mặt nước. Nhưng theo những tài liệu ghi chép lại thì chiếc tàu đầu tiên có thể chạy dưới nước xuất liện vào năm 1578. Vào năm này nhà toán học người Anh, ông William Born trong một quển sách có in bản vẽ mô hình một con tầu được che kín bốn phía để có thể chuyển động được dưới nước. Chiếc tầu được làm bằng gỗ, ở ngoài bọc một lớp da không ngấm nước. Chiếc tầu này có thể “ngâm mình trong nước” bằng cách ép mạn thuyền bằng tay để giảm thể tích của mình. Nhưng rồi bản vẽ vẫn chỉ nằm trên trang giấy và ông William đã không thực hiện được mơ ước bấy lâu của mình. Vào năm 1605 một con tầu giống hệt như thế của một nhà sáng chế khác đã được hạ thuỷ. Tuy nhiên bản quyền của chiếc tiềm thuỷ đỉnh đầu tiên lại thuộc về nhà khoa học người áo, ông Korneli Van Drebbli. Sau nhiều lần thử thách đứa con tinh thần của mình trên dòng sông Thêm ở độ sâu 3-4m, vào năm 1620 ông đã công bố công trình khoa học của mình và được công nhận.
    Con tầu của ông Drebbeli chỉ là một khối được tạo bởi một khung gỗ được bọc da không ngấm nước. Nó chuyển động được là nhờ vào các mái chèo xuyên qua múi tầu và được ép chặt vào những tấm chắn bằng da.
    Sự quan tâm của con người đối với tầu ngầm ngày một lớn và cho đến năm 1727 chỉ tính riêng ở nước Anh đã có không ít hơn 14 công trình sáng chế tầu ngầm được cấp bằng phát minh. Những chiếc tầu ngầm lần đầu tiên được sử dụnh với mục đích quân sự là vào thời kỳ cách mạng Mỹ. Ông David Bushnel đã sáng tạo ra một chiếc tầu ngầm một chỗ siêu nhỏ có biệt hiệu là “con rùa”. Một lần “con rùa” này đã nhăm nhe đánh chìm một chiếc tầu quân sự của Anh và buộc vào đuôi chiếc tầu này một khối thuốc súng. Nhưng sự việc đã không diễn ra như người ta mong muốn, khối thuốc nổ đã không hoạt động, tuy nhiên để thoát hiểm chiếc tầu quân sự đã vội vàng tìm đường chạy ra biển
     
  10. Keane

    Keane Ong tìm mật

    ai đã sáng tạo ra ôtô?
    Không giống với các phát minh vĩ đại khác, lịch sử của chiếc xe ôtô không đơn giản vì nó trải qua nhiều thăng trầm, biến cố. Đóng góp vào quá trình phát triển và hoàn thiện chiếc xe ôtô có sự tham gia của rất nhiều người và trải qua không biết bao nhiêuthời gian. Không có ai dám nhận về mình cái hân hạnh là người đầu tiên đã sáng tạo ra chiếc xe ôtô.
    Phương tiện đầu tiên chuyển động trên mặt đất có động cơ và được sử dụng rộng rãi được sáng tạo ra vào năm 1769. Tác giả của nó là ông Nicola Cunio, người Pháp. Đó là một cỗ xe ba bánh cồng kềnh chạy bằng động cơ hơi nước và nồi súp de có kích thước lớn. Nó chạy với vận tốc 5km/h và cứ 24 tiếng lại phải nạp nhiên liệu một lần.
    Người đầu tiên ở nước Mỹ được nhận bằng phát minh cho cỗ xe tự chuyển động là ông Oliver Evans. Đó là vào năm 1789 khi ông này sáng chế ra một chiếc xe thùng bốn bánh có một bánh cánh quạt ở phía sau, nó có thể chuyển động cả trên cạn lẫn dưới nước. Chiếc xe này nặng tới 19 tấn!
    Gần tám mươi năm sau những thí nghiệm về những cỗ xe như thế vẫn tiếp tục được thực hiện. Những chiếc xe được làm ra đa phần chạy bằng động cơ hơi nước, mặc dù cũng có vài chiếc chạy bằng điện và ngoài nhiệm vụ chở khách chúng còn chở cả những bình ắc quy nặng nề. Cuối cùng vào những năm tám mươi của thế kỷ XIX con người mới có những phát kiến mới mở ra triển vọng tạo ra chiếc xe ôtô hiện đại. Đó là những nghiên cứu về động cơ đốt trong và sự phát minh ra bánh xe khí nén.
    Chiếc xe ôtô chạy bằng xăng đầu tiên đã được vận hành vào năm 1887, tác giả của nó là ông Gotlib Daimler, người Đức. Vào những năm 1892-93 hai anh em nhà Duiry là Franhk và charle đã sáng tạo ra chiếc xe ôtô chạy bằng xăng đầu tiên ở nước Mỹ. Sau đó hầu hết tất cả các xe ôtô được sản xuất ở Mỹ thời bấy giờ đều là phiên bản của chiếc xe do anh em Duiry sáng tạo. Chẳng có ai mày mò tìm ta ra những loại xe khác cả, những sự thay đổi duy nhất là người ta đã thay thế động cơ xăng bằng động cơ đốt trong và lắp thêm một bộ phận mới là đai dẫn động kết hợp để truyền lực cho bánh sau của xe.
    Một thời gian sau khi chiếc xe ôtô đã được đưa vào sử dụng rộng rãi như một phương tiện giao thông thì người ta bắt đầu nghĩ đến việc tăng công suất của nó để thuận tiện cho việc sử dụng hơn. người ta cũng nhanh chóng hiểu ra rằng hình dáng mỏng mảnh của chiếc xe lúc bấy giờ không còn phù hợp nữa. Sau nhiều cải tiến con người đã có được chiếc xe ôtô có hình dáng hiện đại như bây giờ. động cơ được kéo từ dưới ghế ra và đẩy về phía trước. Những chiếc bánh xe mỏng mảnh được thay bằng những chiếc bánh xe lớn hơn, đòn bẩy cũng được thay bằng vô lăng lái. Và cuối cùng để tăng cường kết cấu của chiếc xe người ta đã thay gỗ bằng thép. Và thế là chiếc xe ôtô thực sự đã ra đời.
     

Chia sẻ trang này