100 bài thơ hay nhất thế kỉ XX

Thảo luận trong 'VƯỜN THƠ' bắt đầu bởi truongluu1575, 18/12/2009.

  1. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    37.Đường khuya trở bước
    Đinh Hùng

    Tôi đến đêm xưa, Em vắng nhà,
    Trăng vàng, mây bạc, sầu như hoa.
    Tôi từ viễn phố rời chân lại,
    Chỉ thấy sương nhiều như lệ sa.

    Ở cũng bâng khuâng, đi chẳng đành,
    Đêm trời, sao cũ sáng long lanh.
    Lòng ta ngẫm truyện mười phương vậy:
    Người gái khuê phòng kia mắt xanh?

    Tôi cũng chưa đi hết dặm đường,
    Đời dài, mới đến nửa sầu thương.
    Một đêm trở bước cho lòng nghĩ,
    Sao biếc rơi tàn mộng phấn hương.
     
  2. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    38.Người về
    Hoàng Hưng

    Người về từ cõi ấy
    Vợ khóc một đêm con lạ một ngày

    Người về từ cõi ấy
    Bước vào cửa người quen tái mặt

    Người về từ cõi ấy
    Giữa phố đông nhồn nhột sau gáy

    Một năm sau còn nghẹn giữa cuộc vui
    Hai năm còn mộng toát mồ hôi
    Ba năm còn nhớ một con thạch thùng
    Mười năm còn quen ngồi một mình trong tối

    Một hôm có kẻ nhìn trân trối
    Một đêm có tiếng bâng quơ hỏi

    Giật mình
    một cái vỗ vai.
     
  3. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    39.Đồng chí
    Chính Hữu

    Quê hương anh nước mặn đồng chua
    Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
    Anh với tôi đôi người xa lạ
    Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.
    Súng bên súng, đầu sát bên đầu
    Đên rét chung chăn, thành đôi tri kỷ
    Đồng chí!

    Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
    Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay
    Giếng nước gốc đa, nhớ người ra lính.
    Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,
    Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.

    Áo anh rách vai
    Quần tôi có vài mảnh vá
    Miệng cười buốt giá
    Chân không giày
    Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

    Đêm nay rừng hoang sương muối
    Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
    Đầu súng trăng treo.
     
  4. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    40.Khi con tu hú
    Tố Hữu

    Khi con tu hú gọi bầy,
    Lúa chiêm đang chín trái cây ngọt dần,
    Vườn ươm dậy tiếng ve ngân,
    Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào,
    Trời xanh càng rộng càng cao,
    Đôi con tu hú lộn nhào từng không...

    Ta nghe hè dậy bên lòng,
    Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi.
    Ngột làm sao, chết uất thôi,
    Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu.
     
  5. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    41.Lên Cấm Sơn
    Thôi Hữu

    Tôi lên vùng Cấm Sơn
    Đi tìm thăm bộ đội
    Đây bốn bề núi, núi
    Heo hút vắng tăm người
    Đèo cao rồi lũng hẹp
    Dăm túp lều chơi vơi
    Bộ đội đóng ở đó
    Cách xa hẳn cuộc đời
    Ngày ngày ngóng đợi tin xuôi ngược
    Chỉ thấy mây xanh bát ngát trời
    Họ đã từng dự trận
    Từ Tiên Yên, Đầm Hà
    Về An Châu, Biển Động
    Thấm thoắt hai năm qua

    Cuộc đời gió bụi pha xương máu
    Đói rét bao lần xé thịt da
    Khuôn mặt đã lên màu tật bệnh
    Đâu còn tươi nữa những ngày hoa!
    Lòng tôi xao xuyến tình thương xót
    Muốn viết bài thơ thấm lệ nhoà
    Tặng những anh tôi từng rỏ máu
    Đem thân xơ xác giữ sơn hà

    Quây quần bên nến trám
    Chúng tôi ngồi hàn huyên
    Bao giờ vinh nhục
    Bao nhiêu phút ưu phiền
    Của đời người chiến sĩ
    Đêm thâu kể triền miên:
    "Có khi gạo hết tiền vơi
    Ổi xanh hái xuống đành xơi no lòng
    Có đêm gió bấc lạnh lùng
    Áo quần rách nát lá dùng che thân
    Khó khăn đau ốm muôn phần
    Lấy đâu đủ thuốc mặc dần bệnh nguôi
    Có phen chạy giặc tơi bời
    Rừng sâu đói rét, không người hỏi han".

    Đến nay họ về đây
    Giữ vững miền núi Cấm
    Thổ phỉ quét xong rồi
    Đồn Tây xa chục dặm
    Kiến thiết lại bản xóm
    Bị giặc đốt tan tành
    Trên nền tro đen kịt
    Vàng hoe màu mái gianh
    Họ đi tìm dân chúng
    Lẩn trốn trong rừng xanh
    Về làm ăn cày cấy
    Tiếp tục đời yên lành

    Tiếng hát lừng vang trong gió núi
    Ngày vàng ngân giọng trẻ ê a
    Ở đây bản vắng rừng u tối
    Bộ đội mang gieo ánh chói loà
    Ở đây đường ngập bùn phân cũ
    Xẻng cuốc khua vang điệu dựng nhà
    Ở đây những mặt buồn như đất
    Bộ đội cười lên tươi như hoa.

    Họ vẫn gầy, vẫn ốm
    Mắt vẫn lõm, da vàng
    Áo chăn chưa đủ ấm
    Ăn uống vẫn tồi tàn
    Nhưng vẫn vui vẫn nhộn
    Pháo cười luôn nổ ran

    Lòng tôi bừng thức tình trai mạnh
    Muốn viết bài thơ nhộn tiếng cười
    Tặng những anh tôi trong lửa đạn
    Qua nghìn gian khổ vẫn vui tươi.
     
  6. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    42.Lời nói dối nhân ái
    Trang Thế Hy

    Gió nói với chiếc lá úa:
    "Trong vòng tuần hoàn bất tận của chiếc lá,
    Màu vàng của mi trong khoảnh khắc này
    Là sắc đẹp vĩnh hằng của nhan sắc mùa Thu tàn phai nhanh;
    Đừng buồn cái đẹp nào cũng phù du vì chỉ có cái phù du mới đẹp"
    Lá biết gió nói dối nhưng lá vẫn vui vẻ bay vèo theo gió.
    "Chàng thấy Nàng đẹp rồi chàng mới yêu
    Anh thì ngược lại, anh yêu trước rồi sau đó mới biết rằng em đẹp"
    Lời nói dối ngược ngạo luật phản xạ của anh chồng làm ửng hồng đôi má cô vợ trẻ.
    Cô gái nói với ông già:
    "Bố đẹp lão quá! Hồi còn trai chắc bố có số đào hoa"
    Ông già - héo queo như cây kiểng còi - uống lời nói dối cực kỳ khó tin của cô gái như uống
    giọt nước thần có dược chất hồi xuân
    Tiếc thay! những lời nói dối ta phải nghe hằng ngày lại là những lời nói dối không nhân ái.
     
  7. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    43.Gánh nước đêm
    Á Nam Trần Tuấn Khải

    Em bước chân ra,
    Con đường xa tít,
    Non sông mù mịt,
    Bên vai kĩu kịt,
    Nặng gánh em trở ra về,
    Ngoảnh cổ trông sông rộng giời khuya...

    Vì chưng nước cạn, nặng nề em dám kêu ai!
    Nghĩ tiếc công cho bà Nữ Oa đội đá vá giời,
    Con dã tràng lấp bể biết đời nào xong ?
    Bước đêm khuya thân gái ngại ngùng,
    Nước non gánh nặng,
    Cái đức ông chồng hay hỡi có hay ?
    Em trở vai này...!
     
  8. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    44.Tỳ bà
    Bích Khê

    Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
    Trăng đan qua cành muôn tay êm
    Mây nhung pha màu thu trên trời
    Sương lam phơi màu thu muôn nơi

    Vàng sao nằm im trên hoa gầy
    Tương tư người xưa thôi qua đây
    Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
    Hoa vừa đưa hương gây đê mê

    Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
    Cây đàn yêu đương run trong mơ
    Hồn về trên môi kêu: em ơi
    Thuyền hồn không đi lên chơi vơi

    Tôi qua tìm nàng vay du dương
    Tôi mang lên lầu lên cung Thương
    Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
    Tình tang tôi nghe như tình lang

    Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
    Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
    Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
    Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi

    Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
    Sao tôi không màng kêu: em yêu
    Trăng nay không nàng như trăng thiu
    Đêm nay không nàng như đêm hiu

    Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
    Buồn sang cây tùng thăm đông quân
    Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
    Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.



    * Bài thơ chỉ dùng thanh bằng
     
  9. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    45.Gửi bác Trần Nhuận Minh
    Trần Đăng Khoa

    Bỏ làng ra thành phố
    Hai anh em thợ cày
    Thân cũng như hoa cỏ
    Hồn gửi vào gió mây

    Người bảo bác theo Đỗ
    Em phải học Lý thôi
    Bác đã bay dưới đất
    Em đành đi trên giời

    Bác âm thầm chìm nổi
    Cùng kiếp người lang thang
    Em lông nhông bầu bạn
    Với kiến đen chó vàng

    Bao nhiêu là giun dế
    Đã khiêng vác em lên
    Tên tuổi em xủng xoảng
    Những mõ ran trống rền…

    Bác làm bông lau tàn
    Thả hồn vào hoang vắng
    Khi buồn thì hát ca
    Lúc vui thì im lặng

    Em quấy bầu trăng gió
    Bác gánh bao nỗi người
    Sánh đôi mà đơn độc
    Đi mang mang trong đời

    Giờ thì em đã chán
    Những vinh quang hão huyền
    Muốn làm làn mây trắng
    Bay cho chiều bình yên

    Trả niềm vui cho cỏ
    Trả nỗi buồn cho cây
    Lại áo tơi nón là
    Ta về với luống cày
    Đất trời thì chật hẹp
    Làng quê thì mênh mông
    Thung thăng em với bác
    Ta cưỡi thơ ra đồng.
     
  10. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    46.Thu điếu
    Nguyễn Khuyến

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
    Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
    Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
    Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
    Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,
    Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
     
  11. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    47.Bến My Lăng
    Yến Lan

    Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
    Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.
    Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,
    Ông lái buồn để gió lén mơn râu.

    Ông không muốn run người ra tiếng địch,
    Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao.
    Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch,
    Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao.

    Trôi quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh
    Tơ vương trời, nhưng chỉ rải trăng trăng,
    Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh,
    Để đêm buồn vây phủ bến Má Lăng

    Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã,
    Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly,
    Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả
    Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.

    Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách,
    Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng.
    Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách,
    Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.

    Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng
    Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
     
  12. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    Yến Lan và Bến My Lăng huyền thoại

    Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
    Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.
    Trăng thì đầy, rơi vàng trên mặt sách,
    Ông lái buồn, để gió lén mơn râu.

    Đó là bốn câu đầu trong bài thơ "Bến My Lăng" của Yến Lan, bài thơ có thể đứng được với đời. Không một người yêu thơ nào không biết bài thơ này vì vẻ đẹp huyền ảo của cảnh cũng như vẻ diễm lệ của lời thơ. Nhưng nhiều người băn khoăn tự hỏi : bến My Lăng ở đâu? Không có ở Sông Côn Bình Định, cũng không có tại bất cứ con sông nào trên lãnh thổ Việt Nam. Nhưng có hề chi chuyện ấy. Nhà thơ tưởng mình có thể lên trời như Tản Đà, lên tiên như Thế Lữ, thì sao lại không thể tưởng tượng ra một bến sông huyền hoặc để gửi gắm vào đấy cõi hồn mình?
    Tuy nhiên, cũng có người muốn hiểu rõ nguồn cội của cái bến sông nổi tiếng ấy nên đã tìm đến tác giả và ông đã thành thực giãi bày :

    -"Khi tôi chừng 6-7 tuổi thì mẹ tôi đau nặng phải nằm chữa bệnh ở quê ngoại bên kia sông. Hằng ngày tôi phải mang thức ăn cho mẹ và phải gọi đò qua sông cho đến khi mẹ tôi mất. Từ đó tiếng gọi đò cứ vang vọng trong tâm thức tôi như một nỗi ám ảnh, như tiếng gõ cửa vào một thế giới khác.
    Người lái đò đưa tôi qua sông năm ấy lại chính là cậu ruột tôi. Trong bóng chiều nhập nhoạng, dáng ông phảng phất như một tráng sĩ khi chống sào qua bến vắng.
    Bến sông ấy có một doi cát vàng nằm xoải ra như cái chân mày hình lưỡi mác, cha tôi gọi là My Lăng. Cả ba sự việc trên : sự chờ đợi (đợi đò), hoài niệm về một thời đã qua (tráng sĩ) và dáng dấp cao sang của một vùng văn hóa (chân mày hình lưỡi mác) trộn lẫn trong tâm thức tôi và nó cứ lớn dần theo thời gian. Chừng mười năm sau thì tôi viết được "Bến My Lăng" (1).
    Rồi ông thêm :
    - Khi viết bài thơ này, tôi đặt tên "Bến My Lăng" để kỷ niệm về một bến sông đã đi sâu vào tuổi thơ. Cái tên Bến My Lăng ấy không có thật, nhưng kỷ niệm thì vẫn còn mãi trong lòng tôi.

    Trong thời tiền chiến, Bình Định là một tỉnh có nhiều thi tài, mà nổi tiếng nhất là bốn người trong "xóm thơ Bình Định" (2) : Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn và Chế Lan Viên. Một bạn yêu thơ ở Bình Định là Trần Thống ở thôn Kiên Mỹ, huyện Bình Khê tặng cho bốn nhà thơ thân yêu nhau như anh em ruột ấy cái tên "Bàn thành tứ hữu" (Bốn người bạn thành Đồ Bàn). Lại cũng có người gọi bốn nhà thơ này là "Tứ linh" (Long, Lân, Qui, Phụng) :

    Hàn Mặc Tử là Long (Rồng)
    Yến Lan là Lân (Kỳ lân)
    Quách Tấn là Qui (Rùa)
    Chế Lan Viên là Phụng (chim phượng)

    Yến Lan là nhà thơ cuối cùng của "Xóm thơ Bình Định" rời bỏ cõi trần. Ông tên thật là Lâm Thanh Lang, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1916 (Bính Thìn) tại làng An Ngãi, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định. Theo ông, sở dĩ có bút hiệu Yến Lan vì thời trẻ, gần nhà ông có hai cô gái chơi thân với nhau. Hai cô đều xinh đẹp, nết na và dễ thương. Một cô tên Yến, một cô tên Lan. Hai cô cùng yêu thơ nên dễ có cảm tình với tác giả. Về sau cô Lan trở thành vợ ông, còn cô Yến thì biệt vô âm tín. Bút hiệu Yến Lan ra đời từ đó. Ngoài ra ông còn có bút hiệu Xuân Khai.
    Yến Lan nổi tiếng hay thơ từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Chính Yến Lan dìu dắt Chế Lan Viên (Yến Lan lớn hơn Chế Lan Viên 4 tuổi và học trên Chế 3 lớp) rồi cùng Chế Lan Viên nắm tay nhau đi trên đường văn chương sự nghiệp.

    Năm 1937, Yến Lan cùng Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên sáng lập ra "Trường thơ Loạn". Lúc ấy Chế Lan Viên đã xuất bản tập thơ "Điêu tàn", Hàn Mặc Tử đã hoàn tất tập thơ "Điên",Yến Lan đã có tập thơ "Giếng loạn" và "Bến My Lăng". Ba tập thơ Giếng loạn, Điêu tàn và Thơ điên làm nền tảng cho Trường thơ Loạn. Hai bài tựa của tập Điêu tàn và Thơ điên là "tuyên ngôn" của Trường thơ Loạn. Do câu ca dao :

    Chiều chiều mây kéo về kinh,
    Ếch kêu giếng loạn thảm tình đôi ta

    mà Yến Lan đã viết nên tập thơ Giếng loạn. (tập thơ này đã mất).

    Trường thơ Loạn ra đời ở một tỉnh nhỏ lại gặp lúc phong trào lãng mạn đang lên cao nên chẳng được bao lâu thì chết yểu (3).

    Thi tài của Yến Lan nảy nở rất sớm. Từ năm 1935, lúc mới 19 tuổi và thơ mới mới có 3 tuổi (1932 – 1935), ông đã có nhiều tứ thơ táo bạo và lối biểu đạt tân kỳ. Tả một cánh buồm cô đơn cùng với con thuyền sau một cuộc hải trình vất vả về nghỉ ngơi bên cạnh hòn đảo, trên sóng nước dịu dàng, ông viết :

    Sầu tam giác buồm cô về lặng nghỉ,
    Nhịp hoãn hòa đến vỗ đảo xa khơi.

    "Sầu tam giác" là một tứ thơ mới lạ (cánh buồm hình tam giác), "nhịp hoãn hòa" cũng là một ý thơ hay, diễn tả được cảnh sóng vỗ thong thả, nhịp nhàng vào hòn đảo.
    Ở Sầm Sơn có Hòn Trống và Hòn Mái. Nắng chiều trùm lên các trang viên khiến ông tưởng chừng như đôi cánh bồ câu giăng ra ấp ủ :

    Trống xa Mái ngẩn ngơ thơ đá chạm,
    Chiều bồ câu cánh ủ khắp viên trang.

    Thật là giàu tưởng tượng.
    Yến Lan còn là nhà thơ giàu tình cảm. Ông yêu thiên nhiên, yêu quê hương Bình Định, yêu người thân, bạn bè bằng một mối tình thiết tha sâu nặng.

    * YÊU THIÊN NHIÊN, ông yêu màu xanh của con sóng, yêu màn sương bao phủ Vọng Hải đài (ở Ngũ hành sơn), yêu đá chồng nhiều lớp như một kho tàng quý báu mà thiên nhiên dành tặng cho con người :

    Xanh biêng biếc, sóng con chồm bạc tóc,
    Vọng Hải đài sương khóa kín tâm tư.
    Đá chồng chất, phải chăng ôm mộng ngọc,
    Chút kho tàng ngày tháng giữ khư khư.
    (Xa xanh)

    Yêu thiên nhiên, ông yêu hoa và hương. Hương của hoa sói, hoa nhài, hoa dạ lan đều đáng yêu cả, mỗi loài hoa có một mùi hương khác nhau. Còn lòng em có đợi tình anh chuyển hương sang?

    Hoa sói, hoa nhài tự bốc hương,
    Dạ lan theo gió tỏa đêm trường.
    Lòng em đang nở mùa sim dại
    Có đợi tình anh hương chuyển sang?
    (Hoa và hương)

    Yêu thiên nhiên và yêu hoa, ban công nhà Yến Lan thường có trồng hoa, có lẽ để nhớ vườn lan của ông ở Bình Định ngày xưa :

    Ngấp nghé hiên tây mấy khóm hồng,
    Hoa nhài giậu bắc, lựu tường đông.
    Yêu hoa chẳng để thềm nam trống,
    Đêm mộng mai vàng đến trổ bông.
    (Thềm nhà phía nam)

    Nhưng trong thiên nhiên, ánh trăng mới làm ông say mê nhất. Riêng trong bài "Bến My Lăng" ta có thể đếm được chín chữ "trăng". Ánh trăng ở đây mới lung linh huyền ảo làm sao ! Ánh trăng bàng bạc, mênh mông, tràn ngập con thuyền, rơi vàng trên mặt sách, chiếc áo màu ngọc lưu ly của chàng kỵ mã nhúng đầy trăng, còn ông lão đưa đò thì say trăng, gối đầu lên trang sách ngủ say đến nỗi không nghe tiếng gọi đò của chàng kỵ mã :

    Nhưng đêm kia, đến một chàng kỵ mã,
    Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly.
    Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả,
    Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.
    (Bến My Lăng)

    * YÊU QUÊ HƯƠNG, Yến Lan không bao giờ quên Bình Định. Mỗi người ai cũng có một quê hương để yêu, nhưng với Bình Định, Yến Lan đã yêu tha thiết nơi chôn nhau cắt rốn này, nơi đã ghi lại trong ký ức của ông biết bao kỷ niệm thời niên thiếu với bạn bè, với người ruột thịt. Vì thế ông đã làm đến ba bài thơ về Bình Định : Bình Định 1935, Bình Định 1945 và Bình Định 1975-1976, mỗi bài đều ghi dấu ấn về kỷ niệm và các biến cố lịch sử tại mảnh đất này. Khi có người hỏi ông thích nhất bài thơ nào trong các tác phẩm của mình, có phải bài thơ nổi tiếng Bến My Lăng không thì ông sốt sắng trả lời : - Không, bài thơ mà tôi thích nhất là bài "Bình Định 1935", trong đó tôi đã gửi gắm biết bao kỷ niệm và tâm tư tình cảm của mình :

    Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt,
    Đàng chờ xe, sông nước ước mong thuyền
    Tịch dương – liễu không biết mình đang biếc,
    Tương tư trời – tương tư….. nhạc triền miên.
    ….. Trời Bình Định có thương em lẻ chiếc,
    Em nằm thương xanh biếc của trời buồn.
    Trên đài trán thơ hằng lên vọng nguyệt,
    Nguyệt còn nương thuyền nhạc khuất trong sương.
    (Bình Định 1935)

    Rồi Cách mạng tháng tám đã về. Yến Lan hòa mình vào dòng chảy cách mạng với niềm vui náo nức, niềm sung sướng tự hào. Vui biết bao hình ảnh đàn chim bồ câu tung cánh trắng trong nắng đào, tiếng chuông tu viện reo vang niềm hạnh phúc và em nữa, em đi trong lầu thơ để dệt nên trang tình sử tuyệt vời :

    Lầu cửa Đông có nghe em tâm sự,
    Em đi trong tình sử của lầu thơ.
    Hai chúng ta bước qua đêm quá khứ,
    Ngoảnh đôi đầu không còn thấy bơ vơ.
    (Bình Định 1945)

    Rồi ba mươi năm sau, đất nước hòa bình, thống nhất, Bắc Nam chung một mái nhà, Yến Lan trở về Bình Định, lòng rộn lên biết bao kỷ niệm thời niên thiếu. Này đây bến My Lăng thơ mộng với cát bồi cong quá nửa, này đây bà con, bạn bè ngày xưa nay tóc đã điểm sương và này đây tiếng chuông tu viện ngân nga trong khung cảnh thanh bình, an lạc. Tác giả muốn tung hồn mình ra ôm choàng cả không gian, cả Bình Định thân yêu và đẹp đẽ vô ngần :

    Xanh sắc lại, mênh mông trời rộng mở,
    Hồn ta nay ước choàng cả không gian.
    Ơi Bình Định, từ con tim ấp lửa
    Bừng lên – bừng thành một cuộc hoa đăng.
    (Bình Định 1975-1976)

    Yêu Bình Định, Yến Lan yêu cả tiếng chuông đã một thời gieo vào lòng ông những âm thanh buồn vui lẫn lộn :

    Tám tư (1984) về lại ở An Nhơn,
    Phố cũ, người xưa chẳng mấy còn.
    Đêm đến nằm nghe cành liễu phất,
    Chợt nhìn quen thuộc tiếng chuông boong.
    (Tiếng chuông ngày cũ)

    Ta thường chỉ "nghe" được tiếng chuông, còn Yến Lan thì "nhìn" được tiếng chuông, ở đây thị giác và thính giác đã hòa quyện lẫn nhau nên nghe được sắc màu và nhìn được âm thanh.
    Yến Lan còn có những bài thơ Nhớ làng, Lại về tỉnh nhỏ, An Lão, Phù Ly (4) đậm đà tình yêu quê hương xứ sở. Trong bài thơ "Lại về tỉnh nhỏ", ông nhớ quê hương mình đã một thời đầm ấm yên vui nhưng rồi có biết bao thay đổi, đó đây hiện lên những nét buồn vời vợi và quang cảnh man mác đìu hiu :

    Tỉnh nhỏ
    Đìu hiu.
    Mặt trời ngủ giữa chiều,
    Trở mình trên mái rạ.
    … Tỉnh nhỏ
    Cô em
    Nằm xem
    Kiếm hiệp.
    (Lại về tỉnh nhỏ)

    * YÊU NGƯỜI THÂN, Yến Lan không sao quên được người mẹ chịu thương chịu khó suốt đời để lo cho chồng con và mất sớm có lẽ vì quá vất vả :

    …. Sống cầm kim chỉ cóng tay tê,
    Khi chết đi, đầu mẹ vẫn quay về.
    Nhưng sao khỏi cau mày trong nắm đất
    (Chuyện quê ngoại)

    Ông thương mẹ cam chịu long đong, lận đận để lo cho cái gia đình bé bỏng của mình không một lời thở than, trách móc :

    Thương xưa mẹ sống đời sông bến,
    Một lá đò đưa nặng gánh gồng.
    (Mùa lụt thăm quê mẹ)

    Mẹ mất rồi, chị phải thay mẹ nuôi em. Ông yêu biết bao người chị cả, quên cả tuổi thanh xuân của mình, ngày ngày lấy nghề vấn thuốc lá để nuôi em. Nhưng tuổi xuân qua mau, thời gian không đợi, một ngày kia chị cũng phải đi lấy chồng :

    Khế chua chị nấu lá mồng tơi,
    Em ước cùng ăn đến trọn đời.
    Tang mẹ mãn rồi, bà mối giục,
    Chị đi, bát đũa cũng mồ côi.

    * YÊU BẠN BÈ, Yến Lan đã viết những vần thơ thân thiết, chí tình. Khi ở miền Bắc, xa bạn, nửa đêm nghe tiếng chim bìm bịp kêu ở đầu lán, ông không sao ngủ được, ra đứng nhìn vành trăng khuyết mà bâng khuâng nhớ bạn :

    Sang canh, bìm bịp kêu đầu lán,
    Đất mới, nhà đơn, lạ láng giềng.
    Nhớ bạn, nửa đêm ra tựa liếp,
    Khuyết cong mày bạc, ngấn trăng in.
    (Nhớ bạn)

    Thật ít có ai như ông, nhớ bạn, tìm đến nhà bạn để thăm, khi tìm được nhà rồi thì ngần ngại không vào vì "sợ vào đúng nhà" và e "vườn, cỏ um tùm – sách, mốc meo" :

    Chợ cách đò giang, xóm cách đèo,
    Phải đây nhà bạn đứng cheo leo?
    Muốn vào, sợ đúng nơi tìm đến,
    Vườn, cỏ um tùm – sách, mốc meo.
    (Tìm bạn cũ)

    Lời thơ chân tình và đôn hậu biết bao !
    Lẽ tất nhiên, trong số bạn bè, Yến Lan thân nhất với các bạn trong "Bàn thành tứ hữu". Với Yến Lan, Quách Tấn có nhiều kỷ niệm khó quên. Ông kể :

    Lúc Yến Lan ở Nha Trang có ít nhiều kỷ niệm. Một trong những kỷ niệm này là cây me. Cây me mọc bên cạnh đình Xương Huân, gốc thì đứng bên vườn đình, song một phần lớn tán lá trùm lên mái nhà bếp của tôi. Cây me này sống có trên vài trăm năm, gốc đã to đến hai ôm và lòng đã bộng từ rễ đến ngọn.
    Một hôm me chín, lũ con tôi muốn ăn nhưng cây cao quá, đành đứng dưới dốc ngó lên. Yến Lan thấy vậy liền bắc thang leo lên mái nhà rồi chuyền sang cây me mà hái. Hình ảnh ấy trong mấy mươi năm vẫn sống trong lòng tôi. Mùa thu năm Mậu Thân (1968) lòng bỗng nhớ Yến Lan da diết, tôi ra đứng tần ngần dưới gốc me. Bỗng một trận lá me vàng tuôn xuống làm sống dậy bóng dáng cố nhân ! Gần mười lăm năm ly biệt, không một tin đưa ! Bồi hồi áo não, tôi viết được một bài lục bát :

    Me thu lã chã mưa vàng,
    Nắng thu hiu hắt bóng chàng năm xưa.
    Bấy chầy cách trở nắng mưa,
    Đời Ly Tao ngọt hay chua hỡi lòng?
    Chàng đây là Yến Lan.

    Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Yến Lan và Quách Tấn cùng sống ở Bình Định, hai người ở cách nhau trên dưới ba mươi cây số, không phải là xa, nhưng ít được gặp nhau vì đường sá bị phá hoại, việc giao thiệp bị hạn chế và kế mưu sinh chiếm hết cả thì giờ :

    Quách Tấn ngồi thắt gióng,
    Yến Lan nấu xà phòng.
    Văn chương tỉnh Bình Định
    Phó mặc Nguyễn Thành Long (5).

    Yến Lan có làm một bài thơ tứ tuyệt tặng Quách Tấn, lời thơ rất xúc động, đầy tình cảm trìu mến thân thương. Tuy là đề tặng Quách Tấn nhưng không gửi trực tiếp cho Quách Tấn mà chỉ đăng báo. Bài thơ viết năm 1982 mà mãi đến tám năm sau mới đăng trên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay <:I>số 45, ngày 1 tháng 10 năm 1990 (trang 28) :

    Nhớ bạn nhiều hôm da diết nhớ,
    Lại đành không tiện viết thư thăm.
    Ngại trao tâm sự cho tờ giấy
    Đè nặng thêm tay kẻ nhận cầm.
    (Vô tình và hữu tình)

    Tuy sống lâu năm ở Hà Nội, nhưng Chế Lan Viên vẫn luôn nhớ quê hương, nên khi hòa bình thống nhất được ít lâu, Chế quay trở về Nam, dựng được một "lầu thơ" ở quận Tân Bình mang cái tên rất thơ là "Viên tĩnh viên". Dịp này Yến Lan mừng bạn bằng một bài thơ tứ tuyệt :

    Tuổi sáu mươi hai (1982) có cửa nhà,
    Có vườn gió nắng, ngõ sương hoa.
    Theo thơ, đời mãi làm thân khách,
    Làm chủ, giờ thêm bạn với thơ.
    (Mừng bạn có nhà)

    Năm 1989 Chế Lan Viên qua đời. Nhân ngày giỗ Chế, Yến Lan làm bài thơ "Ngắm hoa quỳnh nhớ Chế Lan Viên" để viếng Chế, lời thơ thật xúc động, đầy tình cảm :

    Hương tạ trời khuya đẫm sắc quỳnh,
    Nửa nghiêng tiền kiếp, nửa lai sinh.
    Lẫn vào sương khói ba canh mộng,
    Một cánh phù hoa bỗng lộ hình.

    Bình Định tháng 6-1994
    Vào cuối đời, Yến Lan quay về với thơ tứ tuyệt. Tập "Thơ tứ tuyệt" của ông do Nhà xuất bản Hội Nhà văn in năm 1996 gồm 160 bài chọn từ hàng trăm bài thơ tứ tuyệt của ông sáng tác trong mấy chục năm qua.
    Tác giả viết về quê hương yêu dấu, về những nơi đã qua, đã sống, về người đồng hương, về bạn bè, người thân bằng lời thơ súc tích và tình cảm chân thành.
    Đến viếng chùa Hương, một thắng cảnh từng làm say đắm bao người, ông viết :

    Chua ngọt chạm đầu lưỡi,
    Chát đắng ẩn trong men.
    Chén rượu trên Bến Đục
    Sóng sánh tiếng chuông thiền.
    (Rượu mơ uống ở chùa Hương)

    Viết cho người thân yêu, tình cảm của tác giả rất chân thành và tha thiết :

    Cùng chim tu hú bạn bao giờ,
    Tuổi nhỏ con chưa rời thủ đô.
    Nay chiến trường xa tìm đến gặp,
    Rắc màu hoa gạo đỏ trong thơ.
    (Tu hú)

    Thuở xưa, Trang Tử nằm mơ thấy mình hóa bướm, lúc tỉnh dậy băn khoăn tự hỏi không biết mình hóa bướm hay bướm hóa ra mình. Còn Yến Lan buổi sáng đọc Nam Hoa kinh (6) nhưng buổi tối không hóa bướm nên mừng mình làm chủ được mình :

    Sáng đọc Nam Hoa kinh,
    Tối nằm không hóa bướm.
    Mừng mình chủ được mình,
    Dậy thổi nồi khoai sớm.
    (Đọc Nam Hoa kinh)

    Từ năm 80 tuổi trở đi, Yến Lan ngày càng suy yếu, sức tàn lực kiệt, cuộc sống chỉ còn đếm trên đốt ngón tay nhưng ông vẫn làm thơ :

    Tay bưng thuốc đắng nhìn xuyên chén,
    Năm tháng còn trên mấy đốt tay.

    Khi có bạn cũ đến thăm bên giường bệnh, ông mừng lắm rồi lại làm thơ :

    Mở mắt nhìn qua ai đến thăm,
    Thì ra bạn cũ đã mười năm.
    Câu thơ ngày ấy nhòa mưa hạ,
    Còn nửa vầng trăng cứ khuyết thầm.

    Ngày 5-10-1998 Yến Lan đã ra đi, mang theo vầng trăng lung linh thuở nào trên bến đò huyền thoại. Mai sau, bạn đọc có thể quên thơ Yến Lan, nhưng chắc không thể nào quên được vầng trăng huyền ảo trên bến My Lăng đã một thời làm xao xuyến lòng người.

    ___________________________________________________________________

    (1) Trích Nhà văn Việt Nam thế kỷ 20 (NXB Hội Nhà Văn VN - Hà Nội 1999) tập 4 trang 427.
    (2) "Xóm thơ Bình Định" : chữ của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam.
    (3) Theo cuốn Bóng ngày qua của Quách Tấn (NXB Văn Nghệ TP.HCM 2001).
    (4) An Lão, Phù Ly : hai địa danh ở tỉnh Bình Định.
    (5) Sđd trang 204-205.
    (6) Nam Hoa kinh : tên một bộ sách của Trang Tử thời Chiến quốc.
     
  13. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    48.Tháp Chàm
    Văn Lê

    Ngút ngàn ở giữa rừng xanh
    Hiện lên ngọn tháp một mình cô đơn
    Người xưa đã chọn mặt tường
    Để lưu giữ lấy tâm hồn thiêng liêng

    Nắng chiều ngọn tháp đổ nghiêng
    Thời gian ăn rỗng cả viên gạch hồng
    Vậy mà trong thớ đất nung
    Vẫn còn in đậm chân dung con người

    Còn đây vũ nữ lả lơi
    Trăm năm vẫn múa không người lại xem
    Thần tình yêu nép bên thềm
    Mũi tên số phận chưa tìm đích bay

    Còn đây một mẩu cánh tay
    Một bàn chân gãy, một cây gươm cùn
    Một con ngựa mất yên cương
    Một cây cung cháy, lửa cồn xung quanh

    Những gì thuộc của chiến tranh
    Chẳng còn giữ được nguyên lành, lạ không!
    Bao năm gió táp mưa rừng
    Vẫn không xóa được chân dung con người

    Để chiều nay trước mắt tôi
    Một người múa với một người đứng xem
    Vô tư như một ngọn đèn
    Tháp Chàm lặng lẽ sáng lên giữa rừng.
     
  14. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    49.Ông đồVũ Đình Liên

    Mỗi năm hoa đào nở
    Lại thấy ông đồ già
    Bày mực tàu, giấy đỏ
    Bên phố đông người qua

    Bao nhiêu người thuê viết
    Tấm tắc ngợi khen tài
    Hoa tay thảo những nét
    Như phượng múa, rồng bay

    Nhưng mỗi năm, mỗi vắng
    Người thuê viết nay đâu
    Giấy đỏ buồn không thắm
    Mực đọng trong nghiên sầu

    Ông đồ vẫn ngồi đấy
    Qua đường không ai hay
    Lá vàng rơi trên giấy
    Ngoài trời mưa bụi bay

    Năm nay đào lại nở
    Không thấy ông đồ xưa
    Những người muôn năm cũ
    Hồn ở đâu bây giờ ?
     
  15. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    50.Đèo CảHữu Loan

    Đèo Cả!
    Đèo Cả!
    Núi cao ngất!
    Mây trời Ai Lao
    Sầu đại dương
    Dặm về heo hút
    Đá bia mù sương!
    Bên quán hồng quân
    Người
    Ngựa
    Mỏi
    Nhìn dốc
    Ngồi than
    Thương
    ai
    lên đường
    Chầy ngày
    Lạc giữa núi
    Sau chân
    Lối vàng xanh tuôn
    Dưới cây
    Bên suối độc
    Cheo leo
    Chòi canh
    Như biên cương.
    Tức
    Râu
    trùm
    vai rộng
    Không nhận ra
    người làng
    Rau khe
    Cơm vắt
    Áo phai màu chiến trường
    Ngày thêm
    Vượn hú
    Đêm canh
    Gặp hùm
    Lang thang!
    Gian nguy
    Lòng không nhạt
    Căm thù trăm năm xa
    Máu nghiêng sôi dào dạt
    Từ nguồn thiêng
    Ông cha.
    - Cầu xây chiến lũy ngất
    Đây hình hài thiên hoa!
    - Xâm lăng!
    - Xâm lăng!
    Súng
    Thèm
    Gươm
    Khát
    - Ai ngâm
    Lung lay
    Đêm quê nhà!
    Nhớ về thăm Đèo Cả
    Hậu phương từ rất xa
    Ăn với nhau
    Bữa heo rừng
    Công thui
    Chấm muối
    Ngủ với nhau
    Sạp rừng
    Nửa tối
    Biệt nhau
    Rừng hoang
    Canh gà
    Râu ngược
    Chào nhau
    Bên vách núi
    Giặc từ Vũng Rô bắn tới
    Giặc từ trong tràn ra
    Nhưng Đèo Cả
    Vẫn
    Giữ
    Vững
    Chân đèo Nam
    Máu giặc
    Mấy lần
    Nắng khô
    Sau mỗi lần thắng
    Những người trấn Đèo Cả
    Về bên suối
    Đánh cờ
    Người hái cam rừng
    Ăn nheo mắt
    Người vá áo
    Thiếu kim
    Mài sắt
    Người đập mảnh chai
    Vểnh cằm
    Cạo râu...
    Suối mang bóng người
    Soi
    Những
    Về
    Đâu ?!
     
  16. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    51.Viếng bạn
    Hoàng Lộc

    Hôm qua còn theo anh
    Đi ra đường quốc lộ
    Hôm nay đã chặthơ cành
    Đắp cho người dưới mộ

    Đứa nào bắn anh đó
    Súng nào nhằm trúng anh
    Khôn thiêng xin chỉ mặt
    Gọi tên nó ra anh!

    Tên nó là đế quốc
    Tên nó là thực dân
    Nó là thằng thổ phỉ
    Hay là đứa Việt gian?

    Khóc anh không nước mắt
    Mà lòng đau như thắt
    Gọi anh chửa thành lời
    Mà hàm răng dính chặt

    Ở đây không gỗ ván
    Vùi anh trong tấm chăn
    Của đồng bào Cửa Ngăn
    Tặng tôi ngày phân tán

    Mai mốt bên cửa rừng
    Anh có nghe súng nổ
    Là chúng tôi đang cố
    Tiêu diệt kẻ thù chung.
     
  17. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    52.Tiếng thu
    Lưu Trọng Lư

    Em không nghe mùa thu,
    Dưới trăng mờ thổn thức ?

    Em không nghe rạo rực,
    Hình ảnh kẻ chinh phu,
    Trong lòng người cô phụ ?

    Em không nghe rừng thu,
    Lá thu kêu xào xạc,
    Con nai vàng ngơ ngác,
    Đạp trên lá vàng khô ?


    1939
     
  18. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    53.Nhớ rừng
    Thế Lữ

    Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
    Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
    Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
    Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm,
    Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
    Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
    Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
    Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

    Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
    Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.
    Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
    Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
    Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
    Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
    Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
    Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
    Là khiến cho mọi vật đều im hơi,
    Ta biết ta chúa tể muôn của loài
    Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.

    Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?
    Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,
    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới ?
    Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng ?
    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.
    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật ?
    -- Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu ?

    Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
    Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
    Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
    Hoa chăm, cỏ sén, lối phẳng cây trồng;
    Giải nước đen giả suối, chẳng thông giòng
    Len dưới nách những mô gò thấp kém;
    Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm,
    Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
    Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

    Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
    Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị.
    Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
    Nơi ta không còn được thấy bao giờ
    Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
    Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
    Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
    -- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!


    1936
     
  19. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    54.Một vị tướng về hưu
    Nguyễn Đức Mậu

    (Tặng Nguyễn Chuông và những người anh ở Sư đoàn cũ)

    Thôi, đã dứt đường binh nghiệp
    Tuổi hưu rồi bác ở quê
    Chạnh nhớ bạn bè thuở trước
    Cùng đi có đứa không về

    Người vợ tuổi già như bác
    Miếng trầu nhai dập chiều mưa
    Hồi son trẻ xa nhau mãi
    Giờ thương biết mấy cho vừa

    Huân chương xếp vào góc tủ
    Nay hàm tướng tá mà chi
    Tuổi già công danh xem nhẹ
    Cuộc đời như nước trôi đi

    Thuở trước bạn cùng súng đạn
    Nay khuây hàng xóm bạn già
    Bao dốc bao rừng đã vượt
    Lối mòn quanh quẩn vào ra

    Ngày đi khuất bóng mẹ cha
    Ngày về sửa sang mộ cũ
    Âm thầm một tấc đất sâu
    Hương khói tỏ mờ mầu cỏ

    Ngôi nhà nắng mưa vẫn đó
    Ðàn con mỗi đứa một nơi
    Nếu không có trẻ hàng xóm
    Tuổi già hẳn nhiều đơn côi

    Những đêm gió thổi buốt trời
    Vết thương cũ còn đau nhức
    Ôi sư đoàn xưa giờ đâu
    Người cũ, ai còn, ai mất?

    Về hưu giờ thôi quyền chức
    Ai người nhớ bác lại chơi
    Ai kẻ xa lòng, tránh mặt
    Niềm riêng một mảnh trăng trời...
     
  20. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    55.Những mùa trăng mong chờ
    Lê Thị Mây

    Thư anh tin ngày về
    Cho vầng trăng hẹn mọc
    Trong ngần cao hoa thơm
    Mây chớm màu tha thiết

    Trăng non nghiêng qua rồi
    Bom rung vầng trăng khuyết
    Xô thuyền trong xa xôi
    Giữa gập nghềnh núi biếc

    Anh khoác balô về
    Ðất trời dồn chật lại
    Em tái nhợt niềm vui
    Như trăng mọc ban ngày

    Gặp nhau tròn mùa trăng
    Em trẻ như bầu trời
    Vòng tay anh đằm thắm
    Giầu lời ru trên môi

    Mai lại tiễn xa nhau
    Vầng trăng cong chẽn lúa
    Ðêm đêm chín ngàn sao
    Rỏ vào tim giọt lửa

    Mong chờ em mong chờ
    Vầng trăng xinh ... gương mặt
    Sáng sáng đầy theo anh
    Suốt chặng đường đánh giặc.
     

Chia sẻ trang này