Điển tích truyện Kiều

Thảo luận trong 'VƯỜN THƠ' bắt đầu bởi truongluu1575, 16/09/2009.

  1. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    ÐẦM ÐẦM CHÂU SA - LÀM MA KHÔNG CHỒNG.
    Ba chị em Thúy Kiều, Thúy Vân và Vương Quan đi du xuân nhân tiết Thanh minh, khi trở về giữa đường gặp một nấm mồ không nhan khói, không ai đắp điếm. Kiều cảm động, lấy làm lạ hỏi. Vương Quan cho biết: - Có một ca nhi tên Ðạm Tiên đã từng "nổi danh tài sắc một thì", đến khi chết vì không có chồng, phải nhờ người khách phương xa nghe tiếng tìm chơi, lỡ cơ nên xuất tiền sắm sanh lễ vật chôn cất. Nay là mồ vô chủ, không ai viếng thăm. Nghe kể, Kiều xót xa thương cảm người bạc mệnh: Lòng đâu sẵn nỗi thương tâm,
    Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa.
    Ðau đớn thay phận đàn bà,
    Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung... (Câu 81 - 84)
    - Sống làm vợ khắp người ta,
    Khéo thay thác xuống làm ma không chồng. (Câu 87 - 88)
    - Châu sa là hột ngọc (châu) rơi xuống (sa), nghĩa bóng chỉ nước mắt rơi. Trong "Truyện Kiều" còn có những câu: Lại cùng ủ dột nét hoa, Sầu tuôn dứt nối châu sa vắn dài.
    Ngại ngùng một bước một xa,
    Một lời trân trọng châu sa mấy hàng.
    Trong "Thần thoại ký" của Trung Hoa có chép: đời Thượng cổ có loài giao long hóa người gọi là giao nhân. Ðầu và mình giao nhân giống như người, nhưng đít giống đuôi cá. Giống này cũng có đực, cái từ dưới nước lên ở thế gian, buôn bán giao thiệp lẫn lộn với người thường. Giao nhân rất xinh đẹp và thông minh, lại giàu tình cảm luyến ái nên được người ở mặt đất thương mến. Giao nhân ở trên đất thời gian chỉ được một năm là phải về thủy cung chầu Long vương theo luật định. Khi trở về, vì quyến luyến cõi trần thế, nhứt là tình đối xử giữa người với giao nhân nên lúc từ giã, giao nhân khóc lóc thảm thiết. Những giọt nước mắt rơi xuống lại hóa thành hột ngọc (châu). Truyện thần thoại chép như vậy. Có điều cụ thể, giọt nước mắt hình giống hột châu nên mới gọi giọt châu hay giọt ngọc. Từ Hán Việt gọi là "lệ châu". Có câu: ​
    Nàng càng giọt ngọc như chan,
    Nỗi lòng luống những bàng hoàng niềm tây.
    ....................
    Sợ quen dám hở ra lời,
    Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
    - Ma không chồng:
    Sống làm vợ khắp người ta,
    Khéo thay chết xuống làm ma không chồng.
    Hai câu này thoát dịch rất tài do hai câu thơ cổ: Sinh vi vạn nhân thể, Tử vi vô phu quỷ. Nghĩa là: Sống làm vợ muôn người, Khéo thay ma không chồng. "Khéo thay" có bản chép là "Hại thay". Bản dịch của Ðào Duy Anh và của Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu chép là "Khéo thay" dựa theo bản Liễu Văn Đường (chữ Nôm khắc năm 1871) và bản của Kiều Oánh chú thích là tình cờ như có bàn tay khéo léo xếp đặt, nói mỉa và cho rằng nhiều bản Nôm khác cho là "hại" là lầm chữ... Bản của Vân Hạc - Lê Văn Hoè chép "hại thay", chú thích là: "Thương hại thay cũng như ta nói "tội nghiệp thay". Sống thì làm vợ mọi người nhưng đến khi chết - thực thảm thay, thương hại thay - làm ma không chồng. Sống thì làm vợ mọi người nhưng đến khi chết - ôi, khéo thay (do bàn tay nào xếp đặt) để phải - làm ma không chồng. Hai từ "khéo thay", "hại thay" đều diễn tả tình cảm. Tất cả đều có ý nghĩa sâu sắc. "Hại thay" chỉ tỏ tình cảm thương xót, thương hại. "Khéo thay" chỉ tỏ tình cảm thương sót nhưng hàm súc một ý nghĩa mỉa mai, trách móc số kiếp của một con người hồng nhan bạc mệnh, bị đời ruồng rẫy, phũ phàng... Tác giả "Truyện Kiều" còn dùng nhiều từ "khéo".....
    Chữ tài chữ mạng khéo là ghét nhau.
    ....................
    Khéo vô duyên bấy là mình với ta. ...
    để tỏ tình thương xót, mỉa mai cay đắng ấy.
     
  2. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    HỌA LÀ NGƯỜI DƯỚI SUỐI VÀNG BIẾT CHO
    Trước nấm mồ của Ðạm Tiên hoang vắng, Kiều cảm động than thở, có câu:  
         Nào người phượng chạ loan chung,      
    Nào ai tiếc lục tham hồng là ai?      
    Ðã không kẻ đoái người hoài,      
    Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.      
    Gọi là gặp gỡ giữa đường,      
    Họa là người dưới suối vàng biết cho.       (Câu 89 đến 94)
    Và, khi bán mình lo hối lộ quan lại để cứu cha mắc tội oan, Kiều làm thơ than thở với em là Thuý Vân nhờ thay mình để kết duyên với Kim Trọng, có câu:      
    Ngày xuân em hãy còn dài,      
    Xót tình máu mủ thay lời nước non.      
    Chị dù thịt nát xương mòn,      
    Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.       (Câu 731 đến 734)
    - "Suối vàng", nguyên từ Hán Việt là "Hoàng (huỳnh) tuyền"; "Chín suối" là "Cửu tuyền" hay "Cửu nguyên" đều chỉ cõi âm phủ. Theo mê tín, đây là một cái suối màu vàng ở dưới lòng đất, người ta lúc chết chôn xuống dưới đất nên dùng chữ "suối vàng" để chỉ chỗ ở của người chết. Sách Tả truyện có câu: "Bất cập hoàng tuyền vô tương kiến giã", nghĩa là "Không đến suối vàng thì không găp nhau được". Nguyên đời Xuân Thu (722-749 trước D.L), Vũ Công nước Trịnh có vợ là Khương Thị sinh ra con trưởng là Ngộ Sinh và con thứ là Ðoạn. Vì sinh Ngộ Sinh do sự đẻ ngang làm Khương Thị khổ sở nên bà không ưa. Trái lại, Ðoạn mặt mũi khôi ngô, sức mạnh hơn người lại có tài thiện xạ nên Khương Thị rất yêu chiều. Muốn cho Ðoạn sau này nối ngôi, nên trước mặt Trịnh Vũ Công, bà thường khen Ðoạn là người hiền đức và tỏ ý muốn lập Ðoạn làm thế tử. Trịnh Vũ Công bảo: - Anh em có thứ bậc, không nên xáo trộn đạo lý. Hơn nữa, Ngộ Sinh không có tội lỗi gì thì sao bỏ trưởng lập thứ được? Thế là Trịnh Vũ Công lập Ngộ Sinh làm Thế tử. Còn Ðoạn thì thì được phong cho đất Cung, gọi là Cung thúc Ðoạn, Khương Thị lấy làm bất bình. Trịnh Vũ Công mất, Ngộ Sinh lên kế vị tức Trịnh Trang Công, lại tiếp tục kiêm chức Khanh sĩ nhà Châu thay cha. Dương Thị thấy Ðoạn không quyền hành, lấy làm buồn bã, bảo Trịnh TrangCông: - Con nối ngôi cha làm chủ nước Trịnh, đất rộng ngoài mấy trăm dặm, thế mà nỡ cho người em ruột thịt một chỗ đất nhỏ mọn không đủ để dung thân, sao yên lòng được? Trịnh Trang Công thưa: - Vậy xin mẫu thân cho biết ý muốn. - Sao không lấy đất Chế ấp mà phong cho em con. - Chế ấp là một nơi hiểm yếu, tiên vương ngày xưa có di mạng cấm phong cho ai. Trừ đất ấy, mẫu thân mẫu thân muốn chỗ nào con cũng sẽ vâng lời. - Nếu vậy thì phong cho nó đất Kinh thành. Trịnh Trang Công im lặng. Khương thị thấy thế nổi giận bảo: - Nếu con không nhận như vậy thì cứ đuổi Ðoạn đi nước khác, để nó tìm cách gì làm ăn được thì nó làm. - Con đâu thể làm thế được. Hôm sau, Trịnh Trang Công vời Ðoạn vào phong cho đất Kinh thành. Qua Ðại phu là Sái Túc can, cho rằng Kinh thành là một ấp lớn, đất rộng người đông, nếu đem phong cho Cung thúc Ðoạn thì mai hậu Ðoạn sẽ cậy thế chuyên quyền.Nhưng Trang Công bảo: - Mẫu thân ta đã muốn vậy thì ta phải làm theo vậy. Thế là Ðoạn ra ở đất Kinh thành. Trước khi đi, Ðoạn vào cáo biệt mẹ. Khương thị nói riêng với Ðoạn: - Anh con không nghĩ đến tình ruột thịt, đãi con lắm điều tệ bạc. Nhờ ta ba lần khẩn khoản nó mới phong đất Kinh thành cho con, ấy là vị nể chưa chắc thành thật. Con về Kinh thành nên lo luyện tập binh mã, chuẩn bị sẵn sàng, nếu có cơ hội thì đem quân lại đánh, ta sẽ nội ứng mà lấy nước Trịnh. Nếu con đoạt được ngôi của Ngộ Sinh thì ta có có chết cũng đành hả dạ. Cung thúc Ðoạn lãnh lịnh mẹ đóng ở đất Kinh thành, đổi hiệu Cung thúc ra Thái thúc. Từ đấy, Ðoạn ngày ngày đem quân vào rừng săn bắn nhưng kỳ thực là đi luyện tập, lại chiếm lấy hai ấp gần đó. Hai quan ấp tể trốn về triều kêu cứu. Trịnh Trang Công không nói gì chỉ mỉm cười. Quan Thượng khanh công tử Lã kêu lên: - Tội Thái thúc Ðoạn thực đáng giết. Trang Công hỏi có ý kiến gì không, thì Lã nói: - Thái thúc Ðoạn ỷ lại trong có quốc mẫu yêu vì, ngoài cậy vào đất hiểm yếu của Kinh thành mà đêm ngày luyện tập binh mã, tất cố ý thoán đoạt. Xin chúa công cho tôi đem đem quân đi Kinh thành, bắt Ðoạn để trừ hậu hoạn.Trang Công bảo: - Tội của Thúc đoạn chưa có gì rõ rệt, không nên vội. - Ðoạn đã chiếm lấy hai ấp. Không lẽ chúa công để đất của Tiên công hao mòn mãi sao? Trang Công cười nói: - Ðoạn là con cưng của mẫu thân ta, ta thà mất bờ cõi còn hơn mất tình anh em và để mẫu thân ta phải buồn. - Sợ mất bờ cõi thì không nói làm gì, e có ngày mất luôn cả nước. Nay Thúc Ðoạn ngày một cường thịnh, dân tình sợ uy mà sinh hai lòng. Bây giờ chúa công còn dung sau này Thúc Ðoạn không dung, chúa công hối thì làm sao kịp nữa? Trang Công nghiêm giọng: - Nhà ngươi không nên nói càn, để mặc ta lo nghĩ. Công tử Lã đi ra, và nói với quan đại phu Sái Túc: - Chúa công ta bịn rịn tình riêng mà quên việc nước. Tôi lấy làm lo lắm! Sái Túc cười bảo: - Chúa công là một người tài trí, há lại không biết điều ấy. Có lẽ vì chỗ đông người không tiện nói ra, vậy ông nên vào hầu riêng mà bàn chuyện, dò xem ýchúa công ra sao. Công tử Lã cho là phải, bèn vào yết kiến Trang Công, Trang Công nói: - Ta nghĩ kỹ lắm. Ðoạn dù vô đạo nhưng chưa rõ tội. Nếu ta đem quân đánh thì quốc mẫu ta ắt tìm cách ngăn cản. Người ngoài không biết lại bảo ta bất hữu và bất hiếu. Chi bằng cứ để thế, Ðoạn tất làm càn, không kiêng nể ai, lúc ấy ta sẽ kể tội trạng đem quân đi đánh thì người trong nước không ai giúp Ðoạn, mà đến mẫu thân ta cũng không oán trách gì được. - Nếu quả vậy, chúa công cao kiến lắm, chúng tôi chưa nghĩ đến kịp. Dù vậy, tôi sợ thế lực Ðoạn ngày một to, lan ra như cỏ mọc, cắt không hết được thì mới làm sao? Chúa công nên mưu nghĩ cách gì cho Ðoạn phản nghịch nổi loạn sớm thì đánh hắn mới chắc được. - Vậy thì ta phải làm cách nào? Thế là sáng hôm sau, Trang Công giao việc quốc chính cho quan Ðại phu Sái Túc để vào triều nhà Châu. Khương Thị nghe biết mừng lắm cho là dịp tốt đã đến, liền viết thư sai kẻ tâm phúc đem đến Kinh thành, hẹn với Thúc Ðoạn đem quân về đánh. Nhưng Công tử Lã đã cho người đón đường bắt được thư và giết ngay tên ấy, rồi đem thư dâng lên Trang Công. Trang Công xem thư, niêm lại rồi sai người giả làm người của Khương Thị đưa thư đến cho Ðoạn, và lấy thư trả lời đem về. Trang Công được thư mừng lắm nói:- Tờ cung chiêu của Ðoạn sẵn có đây rồi. Thế thì mẫu thân ta không bênh vực thế nào được nữa. Trang Công liền vào cáo từ Khương Thị, giả nói vào nhà Châu triều kiến, rồi đem quân theo đường tắt sang Kinh thành. Thái thúc Ðoạn từ khi tiếp được thư của mẹ, liền sai con là Hoạt sang nước Vệ mượn binh, rồi phao tin rằng phụng mạng về triều tạm thay coi việc quốc chính, đoạn mở cửa thành tiến quân. Công tử Lã mưu cho quân giả làm lái buôn trà trộn vào thành trước, đợi khi Ðoạn cất quân đi thì đốt lửa làm hiệu cho Lã biết đem quân đến, trong thành mở cửa ra đón. Lã vào thành rồi liền kể tội Ðoạn trước quân dân, và đem đức tính của Trang Công yết cho nhân dân biết. Người trong thành cho là phải. Thái thúc Ðoạn bắt được tin Kinh thành có biến, không dám trở lại, rút quân về Cung thành. Trịnh Trang Tông xua quân đánh, Thúc Ðoạn nghe tin thở dài, than: "Chính mẹ ta giết chết ta rồi. Ta còn mặt mũi nào nhìn thấy anh ta nữa!". Ðoạn tự tử chết. Trang Công vào thành, ôm thây Thúc Ðoạn khóc kể: "Ta đã giết chết em ta rồi. Em ta quá lo, chớ ta đâu nỡ giết em ta!". Bấy giờ Trang Công thu lấy đồ đạc, tìm thấy bức thư của mẹ gởi cho Ðoạn liền lấy gói lại cùng bức thư trả lời của Ðoạn, sai Sái Túc đem về Trịnh dângcho Khương Thị xem, lại truyền đem Khương Thị an trí sang đất Dĩnh. Trang Công uất ức việc mẹ làm nên thề rằng: "Không đến suối vàng thì chẳng gặp nhau được". (Bất cập hoàng tuyền vô tương kiến giã). Riêng Khương Thị thấy hai bức thư lấy làm thẹn, tự nghĩ không còn mặt mũi nào nhìn thấy Trịnh Trang Công nữa bèn dọn đồ đi ở ấp Dĩnh. Trang công trở về triều, vào cung không thấy mẹ lấy làm đau lòng: "Ta ép lòng để em ta chết, nay nỡ lòng nào để lìa mẹ nữa. Ta thật có tội!". Quan trấn ấp Dĩnh là Ðinh Khảo Thúc vốn người chí hiếu và trung trực, thấy Trang Công đem an trí mẹ thì không bằng lòng, nên có ý tìm cách khuyên can, nên một hôm bắt mấy con chim cú vào dâng cho Trang Công để làm thịt. Trang công hỏi chim gi? Thúc thưa: - Ðây là giống chim cú. Ban ngày, vật gì lớn bằng quả núi cũng không thấy, mà ban đêm vật gì nhỏ như sợi tóc dù ở xa cũng trông thấy rõ. Thật là một con vật trông được sự nhỏ mà không trông được sự lớn. Vả lại, chim nầy khi con nhỏ thì mẹ kiếm mồi cho ăn, nhưng khi lớn lên lại không biết mẹ, vậy nên bắt nó mà ăn thịt. Trang Công im lặng. Nhân lúc ấy có người dâng một con dê chín để vuanhắm rượu. Trang Công sai cắt một miếng cho Ðinh Khảo Thúc ăn. Thúc liền chọn chỗ thịt ngon, tự cắt lấy một miếng gói lại trong giấy, đút vào tay áo. Trang Công lấy làm lạ hỏi, thì Khảo Thúc thưa: - Mẹ tôi đã già, nhà lại bần bạc, ngày ngày chỉ cơm rau dưa muối, chưa hề được vật nầy. Nay chúa công ban cho mà mẹ già không được hưởng thì con không sao nuốt trôi được, nên trộm đem về cho mẹ. Trang Công nói: - Ngươi thật là một người con chí hiếu. Trang Công lại ngậm ngùi nghĩ đến việc mình, thở dài. Khảo Thúc hỏi tại sao thở dài? Trang Công đáp: - Nhà ngươi có mẹ già được phụng dưỡng để trọn đạo làm con. Còn ta làm vua mà không được bằng người. Khảo Thúc giả vẻ ngơ ngẩn, hỏi: - Quốc mẫu hiện đang mạnh giỏi, sao chúa công lại nói thế? Trang Công liền đem việc mưu loạn xảy ra đến việc đày mẹ và cả lời thề, nay hối lại thì đã muộn. Khảo Thúc thưa: - Thái thúc Ðoạn đã đành mất rồi, nay chỉ còn lại quốc mẫu. Nếu chúa côngcòn lo nổi lời thề nặng "suối vàng", thì tôi xin hiến một cách có thể giải được. Chúa công cho người đào đất đến tận mạch nước, đặt thang, làm một cái nhà dưới hầm, rồi rước quốc mẫu đến ở đó. Thế rồi chúa công xuống dưới, kể lại tình nhớ mong mẹ bấy lâu. Tôi tin rằng chúa công nhớ mẹ bao nhiêu thì quốc mẫu cũng nhớ chúa công như thế. Cả hai gặp nhau dưới nhà hầm ấy khỏi trái với lời thề suối vàng được. Trang Công rất mừng, liền thực hiện ngay. Khương Thị bằng lòng. Trang Công theo bậc thang xuống hầm trông thấy mẹ, vội sụp lạy nói: - Ngộ Sinh nầy bất hiếu, lâu nay thiếu phụng thờ mẹ. Mẹ tha tội cho. Khương Thị ngậm ngùi, đỡ Trang Công dậy: - Ðó là lỗi của mẹ. Con đâu có tội gì. Thế rồi hai mẹ con cùng khóc nức nở. Trang Công dắt mẹ lên thang, cùng ngồi xe và tự cầm cương đưa mẹ về cung. "Suối vàng" là như vậy.
     
  3. truongluu1575

    truongluu1575 Ong tìm mật

    ÐÀO NGUYÊN LẠC LỐI ÐÂU MÀ ÐẾN ÐÂY
    Sau khi du Thanh minh về Kiều nằm mộng:      
    Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,      
    Có chiều phong vận có chiều thanh tân.      
    Sương in mặt tuyết pha thân,      
    Rước nàng đón hỏi dò la:      
    Ðào nguyên lạc lối đâu mà đến đây?
    Và, nhân lúc cha mẹ vắng nhà Kiều sang phòng văn của Kim Trọng:      
    Lần theo núi giả đi vòng,      
    Cuối tường dường có nẻo thông mới vào.      
    Xắn tay mở khoá động Ðào,      
    Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai.
    - "Ðào nguyên", "động Đào" hay "động Bích" chỉ nơi tiên ở cũng như "Thiên thai". Theo "Ðào hoa nguyên ký" của Ðào Tiềm (365 - 427), một nhà thơ văn đờiÐồng Tấn, có một ngư phủ huyện Vũ Lăng, một hôm chèo thuyền đi ngược theo bờ suối. Càng đi xa chừng nào thì thấy càng có nhiều hoa đào trôi theo dòng nước đổ xuống. Ðến một quãng bỗng thấy trước mặt hiện ra một rừng đào. Hoa đào đỏ rực rỡ làm cho ngư phủ càng thấy say sưa, thích thú. Ðịnh có người ở gần đấy nên bỏ thuyền lên bờ. Vượt qua rừng đào đến một ngọn núi, dưới chân núi có một cái hang nhỏ hẹp vừa một người chui được, bên trong thấy thoáng có ánh sáng. Gợi tính tò mò, ngư phủ lách mình vào cửa hang. Lúc đầu cửa hang còn hẹp, sau rộng dần. Rồi cả một thế giới hiện ra: ruộng vườn tươi tốt, thôn ấp, nhà cửa liên tiếp nhau. Gà gáy, chó sủa nghe rõ mồn một. Trai gái đều say sưa công việc đồng áng. Trên mặt mọi người hiện vẻ vui tươi, chất phát, hồn nhiên. Người già, trẻ con đều có vẻ ung dung, thanh thản. Họ thấy ngư phủ thì lấy làm kinh ngạc hỏi làm sao đến được chốn này? Ngư phủ trình bày sự thật. Các phụ lão đem vợ con ra chào mừng khách lạ, dọn cơm rượu thịnh soạn đãi đằng. Ngư phủ ăn uống lấy làm ngon lạ, vì tuy cơm rượu mà tính chất khác thường. Các phụ lão lại nói: "Ðây là động Ðào nguyên. Tổ tiên chúng tôi tránh họa đời Tần, đem cả gia đình vào ở đây, từ đó cách biệt với bên ngoài..." Cuối cùng họ dặn ngư phủ: sau khi ra khỏi chốn này, xin đừng cho ai biết có họ ở đây. Lão ngư phủ ở chơi một hôm rồi cáo biệt. Ngư phủ cho mình may mắn gặp được tiên. Khi trở về nhiều người đến thăm hỏi, trước đó còn tìm cách dấu quanh. Chuyện thấu đến quan Thái thú sở tại, ngư phủ đành phảithuật cả việc lại. Có tính hiếu kỳ, viên Thái thú sai người đi theo ngư phủ tìm lại động Ðào nguyên nhưng bị lạc đường đành phải trở về. Nước ta có chuyện "Ðộng Bích Ðào". Ðộng ở xã Trị Nội, huyện Nga Sơn, bên mặt núi Trần Phù thuộc tỉnh Thanh Hoá. Tương truyền đời nhà Trần, niên hiệu Quang Thái (1388 - 1398) có ông Từ Thức làm quan Tể huyện Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh). Bên cạnh huyện có một ngôi chùa có trồng một cây mẫu đơn. Mỗi khi nở hoa thì người các nơi đổ đến, xe ngựa dập dìu. Trong khi mọi người nhìn ngắm hoa đẹp, bỗng có một thiếu nữ dung nhan diễm lệ bước đến, đưa tay ve vuốt lấy hoa. Nhưng chẳng may khi vịn lấy một cành mẫu đơn thì cành dòn bị gãy. Người giữ hoa giữ nàng lại, bắt đền. Nàng không có vật gì đền. Và, mãi đến tối cũng không có người quen đến nhận. Nàng khóc. Từ Thức thấy thế động lòng thương xót, liền cởi áo bạch cẩm cừu đưa cho nàng chuộc tội, để được thả về. Một thời gian sau vì không muốn ràng buộc bởi lợi danh, Từ Thức trả ấn từ quan về ở huyện Tống Sơn. Rồi ngày ngày, Từ với một con thuyền, một bầu rượu, túi thơ chu du khắp danh lam thắng cảnh. Một hôm nhìn thấy cửa biển Thần Phù có đám mây năm sắc kết tụ hình hoa sen, Từ vội chèo thuyền đến, thấy một hòn núi rất đẹp, lòng sinh cảm khái, nhân đề một bài thơ. Từ đề thơ xong nhưng bỡ ngỡ chưa biết đường nào đi, thoạt thấy vách đá tách mở ra một chỗ tròn khoảng trên một thước. Từ đi bộ chen mình vào, nhưng được vàibước thì vách đá khép kín lại. Ði được vài dặm thấy sườn đá đứng thẳng như bức tường. Từ lần leo lên, mỗi bước thấy đường càng rộng. Ðến chót núi thì thấy có ánh mặt trời chiếu xuống. Nhìn quanh bốn phía thấy một dãy lâu đài cực kỳ lộng lẫy như tranh vẽ. Từ đương lấy làm ngạc nhiên, bỗng thấy có một đồng nữ áo xanh đến bảo: - Phu nhân tôi xin mời tướng công vào! Từ mừng rỡ vâng lời. Thẳng vào thì thấy một phu nhân đương ngồi trên giường chạm thất bảo, bên cạnh có đặt một cái tháp nhỏ bằng đàn hương. Phu nhân mời Từ ngồi ung dung bảo: - Ðây là hang động thứ sáu trong số 36 động ở Phù Lai. Ta đây là Ngụy phu nhân địa tiên Nam nhạc, nghe nhà ngươi có cao nghĩa hay cứu trợ người khốn đốn nên mới cho rước đến đây. Ðoạn, phu nhân gọi một cô gái đến. Từ liếc nhìn, nhận ra là thiếu nữ làm gãy hoa ngày trước. Phu nhân chỉ cô gái, bảo Từ: - Ðó là con ta tên Giáng Hương. Khi truớc nhờ ngươi cứu việc làm gãy hoa, ơn ấy không quên nên ta muốn kết làm giai ngẫu để trả. Từ rất vui mừng. Ngay trong đêm ấy, phu nhân truyền thắp đèn mở phụng, trải phụng, trải chiếu vũ rồng, cho Từ cùng Giáng Hương làm lễ giao bôi.Thấm thoát đã được một năm. Nhưng cảnh tiên không khuây khoả được lòng trần, Từ bỗng dưng động lòng nhớ cố hương nên ngỏ ý với Giáng Hương cho về thăm. Biết không giữ được, nàng đành thưa với mẹ. Phu nhân biết Từ còn nặng lòng trần nên bằng lòng, cho Từ một chiếc xe bằng mây "Cẩm xa vân" để đưa về. Riêng Giáng Hương giao cho Từ một phong thư, dặn về đến nhà hãy mở ra xem. Ðến nhà, nhìn quanh cảnh cũ không còn như xưa, thành quách nhân dân không còn như trước, duy cảnh núi sông thì còn như độ nào. Từ đem tên họ mình mà hỏi thăm người già, thì có người bảo: - Thuở tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng tên họ như ổng, đi vào núi mất đến nay có gần trăm năm rồi. Từ Thức bấy giờ mới bỡ ngỡ, bùi ngùi, muốn lên xe mây để về chốn cũ thì xe đã hoá thành con trường loan bay mất. Buồn tủi, Từ mở thư của Giáng Hương xem, chỉ có câu ngắn ngủi: "Kết loan lữ ư vân trung, tiền duyên dĩ đoạn; phỏng trên sơn ư hải thượng, hậu hội vô nhân". (Kết bạn loan trong mây, duyên trước đã dứt, tìm núi tiên ở trên biển, hội sau khôn cẩu). Ý nói, duyên trước kết đôi loan phụng cùng nhau nay đã đoạn tuyệt rồi; ngày sau muốn tìm lại núi tiên cũng không được nữa.Tuyệt vọng hoàn toàn. Từ đó, Từ Thức mặc áo khinh cừu, đội nón lá vào núi Hoàng Sơn ở huyện Nông Cống (tỉnh Thanh Hoá) rồi biệt tích. Ðào nguyên, Ðộng Ðào, Thiên Thai, động Bích là tiên cảnh, nơi tiên ở...dùng lối thậm xưng để chỉ chỗ ở xinh đẹp, thanh cao.
     

Chia sẻ trang này